Hương Giải Thoát

15 Tháng Mười 201100:00(Xem: 36406)

HƯƠNG GIẢI THOÁT
TT. Thích Chân Tính
(Chùa Hoằng Pháp)

Nắng hạn đã lâu, mặt đất khô cằn, cỏ cây xơ xác, cảnh vật điêu tàn. Bỗng một ngày có cơn mưa lớn trút xuống, vạn vật như được tắm mát, đất đai thấm nhuần, nhẫn cho đến loài đá sỏi cũng được tẩy rửa.

Cũng thế, giữa nhân gian ngập tràn đau khổ, vạn loại đang còn chìm đắm trong đêm dài của sanh tử trầm luân, còn nổi chìm trong biển khổ tưởng chừng như bất tận, bỗng đức từ phụ Thích-ca Mâu-ni vì lòng đại bi xuất thế, Phật nhật huy hoàng, xua tan màn đêm của vô minh, làm thuyền cứu vớt chúng sanh thoát khỏi ái hà.

Pháp của Phật như mưa, tùy mỗi loài đều nhận được lợi ích”. Chúng sinh căn tánh bất đồng song nếu đã lãnh thọ pháp của Phật thì không luận là nhiều hay ít, hoặc mau hoặc chậm, thảy đều được lợi lạc và giải thoát và lý do đơn giản chính là tuân theo luật nhân quả. “Ví như người ăn chút kim cương không thể tiêu, hạt giống Phật đã gieo vào tạng thức sẽ mãi còn nguyên không sót mất”.

Đến với đạo Phật là đến với sự giải thoát, tu theo pháp Phật tức đã đi trên con đường giải thoát. Phật pháp không xa rời thế gian nên rất thực tế. Ngay trong hoàn cảnh này mà khởi lòng từ bi, ngay trong cuộc sống này mà bao dung, ở nơi các chướng duyên mà nhẫn nhục, vì tâm từ ái mà có thể hy sinh, rõ lẽ vô thường nên sống an bần trong “thiểu dục tri túc”, lìa các ngã chấp nên vô ngã vị tha v.v... Không biết bao nhiêu những phẩm đức cao đẹp và trong sáng được phát huy từ chỗ chân tu thật đạo và những hạnh lành ấy sẽ đưa người học đạo tiến dần lên quả Thánh.

Hôm nay, trong niềm hân hoan và an lạc khi được tắm trong dòng nước từ bi có pha lẫn hương giải thoát, con cùng tất cả chúng sinh vui sướng khôn cùng, thiết tha phát lên lời nguyện. Nguyện đời đời kiếp kiếp, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, trái tim con vẫn luôn có Phật, cuộc đời con luôn luôn có chính pháp sáng soi, đến nơi nào cũng được bậc đại thiện tri thức, những thượng thiện nhân dẫn đường... Tuy con không được giàu sang như người nhưng những lúc con bước từng bước chậm rãi trong đạo tràng, thân mặc chiếc áo lam, hoặc khi kinh hành, hoặc khi lễ Phật trong buổi sớm mai, trong cảnh chiều tà... những giờ phút hiện tiền ấy con cảm thấy đời mình thật đầy đủ, thật bình yên, một ý niệm buông xả bừng lên, bao tham ái tựa hồ như cháy rụi. Con cảm giác tâm hồn mình ngập đầy sự an lạc thảnh thơi, dẫu biết rằng ngày mai lại rơi vào vòng quay cơm, áo, gạo, tiền.

Khi cuộc sống đời thường gặp lúc chật vật, khó khăn, chợt nhớ đến lời Phật dạy: “Ít muốn, biết đủ”. Soi lại đời mình, con là người quá ư đầy đủ vì cha mẹ còn hiện diện, anh em thuận hòa, mỗi ngày đều có cơm ăn hai bữa, áo vải quần thô cũng đủ ấm thân, còn sức khỏe để làm việc mưu sinh, có thân thể bình thường để dễ dàng đi đây đi đó... Con còn được trông thấy dung nhan của đức Từ phụ Thế Tôn, có thể lễ bái trước tôn tượng của đức Quán Thế Âm, mỗi ngày có thể sống bình an, mỗi ngày có thể nhớ tưởng đến Tam Bảo... Con đã có rất nhiều thứ quý giá và sự thật con là một trong số những người may mắn, một trong số những người đầy đủ và là người thật hạnh phúc giữa cuộc đời có nhiều bất hạnh, khổ đau. Mỗi khi gặp điều khổ não, phiền lụy trong cuộc đời, nếu không nhờ Phật pháp soi đường, nếu không tin sợ nhân quả, nếu không dùng ngũ giới nhắc nhở, có lẽ con đã đào thêm hố sâu tội lỗi, tạo thêm vô lượng vô biên nghiệp thay vì phải quán chiếu và ăn năn sám hối.

Trong kinh Kim Cang, con tâm đắc nhất bài kệ:

Tất cả pháp hữu vi

Như mộng huyễn bọt bóng

Như sương như chớp lóe

Nên quán tưởng như thế”.

Để rồi, trong đời sống gặp lúc trái ý nghịch lòng, con đem bài kệ này ra để đối trị, chẳng thế, trong lúc vui sướng ngập tràn con cũng dùng bài kệ này.

“Vạn pháp do duyên sanh

Lại cũng do duyên diệt”

Ôi! Lời Phật thật hoàn mĩ, hàm súc và thiết thực, nên khi nghĩ đến hai bài kệ này, các ý tưởng tham đắm, cố chấp trong con nhẹ dần. Thế mới biết “Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu”, chỉ cần thật tâm ứng dụng thì chẳng cần phải dùng nhiều phương pháp, mà ở nơi một bài kệ, một câu kinh do Phật thuyết đều sẵn đủ diệu dụng, có thể tiêu trừ các phiền não, khổ đau. Con chợt nhận ra rằng, tu là phải biết xem xét và sửa đổi nơi bản thân thì mới có được lợi ích và an lạc, chữ “tu” đó dễ hiểu là “sửa”, sửa ác ra thiện, bỏ xấu làm tốt, diệt si mê và khai đường trí tuệ.

Nhiều lúc lặng lẽ một mình, con nghĩ nếu như đời sống này không nhờ pháp Phật dẫn đường, bản thân mình sẽ ra sao khi đứng trước cuộc đời có nhiều cạm bẫy, mê hoặc. Phải chăng lửa Tam độc càng thêm lẫy lừng, hằng vui thú với sát sinh, trộm cắp?

Có lắm lúc những người thân yêu đã nói những lời, đã làm những việc khiến cho con đau khổ, và rồi trong cơn đau khổ ấy con chỉ có thể khóc và gọi “Phật ơi!”. Vì khi đó chỉ có Phật mới hiểu và thương con thôi. Lại có khi gặp phải hoàn cảnh sợ hãi chúng con thầm niệm hồng danh và nhớ tưởng đến hình tượng của Bồ-tát Quán Thế Âm thì nỗi lo sợ cũng bớt đi. Đủ biết Tam Bảo là chỗ tốt để con nương tựa, là nơi an ổn cho chúng sinh nương về. Đối với pháp môn Tịnh Độ, dầu con cũng đã có tín tâm, nhưng vì nghiệp chướng sâu nặng nên con chưa được “nhất tâm bất loạn” vẫn thường hay thất niệm nhưng hễ con nhớ là lại niệm ngay. Con biết sự tu tập của con còn kém tệ vô cùng, sự hiểu biết lại càng hạn chế, con chưa xứng đáng là một Ưu-bà-di chân chính, nhưng con chỉ mong sao lòng niệm đạo chẳng nhạt phai. Con có thể cố gắng và cố gắng mãi...

Nhìn lại những gì đã qua, con biết mình vừa thay đổi từ xấu thành tốt, tuy cũng không phải tốt gì cho lắm, song cũng đã hơn trước kia rồi. Con đã có thể vui vẻ mà bố thí, có thể bỏ qua lỗi lầm cho người khác để sống an lạc và hỷ xả với cuộc đời.

Ngày nay, được mưa pháp tắm gội thân tâm, con nghĩ mình đã may mắn và có phước báu lắm đây! Trong niềm hân hoan ấy, con và tất cả mọi hữu tình sẽ chẳng thể nào quên đại ân, đại đức của đấng đại giác Thế Tôn cách nay hơn hai ngàn năm về trước đã thị hiện vì chúng sinh dày công tầm đạo. Lại nhờ ơn chư vị Bồ-tát, lịch đại tổ sư, những bậc đại nhân đã hộ trì chính pháp, thay Phật chuyển pháp luân chỉ vì muốn làm lợi lạc cho trời, người và hết thảy. Các vị cao tăng, thạc đức đã chuyển ngữ giáo điển của Phật thành Việt ngữ, các ngài thể vì lòng từ bi mà hoằng dương thánh đạo. Để đến hôm nay chúng con được gặp chánh pháp và có chỗ nương tựa tu hành. Con xin thành kính tri ân trước là thầy bổn sư của con – vị thầy Trụ trì chùa Hoằng Pháp cùng toàn thể chư Tăng đã hết lòng chăm lo cho chúng sinh. Bản thân con nhờ ở gần chùa, nhờ đọc sách do chùa phát hành mà con đã dễ dàng đến với đạo Phật.

Mong sao quý thầy luôn được an lạc, lòng độ sinh không mệt mỏi, để đưa lớp lớp chúng sinh vượt qua biển khổ.

Cao quý thay:

Tam Bảo chính là ba ngôi báu

Lại là nơi nương náu cho ta

Dẫu qua sốkiếp hà sa

Ngợi khen khôn xiết, ngợi ca không cùng”.

 

>
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Mười Một 2018(Xem: 7145)
23 Tháng Ba 2018(Xem: 6091)
18 Tháng Mười Một 2016(Xem: 7305)
24 Tháng Năm 2016(Xem: 7485)
Tôi muốn lý giải về 10 lời nguyện này. Trong kinh hoa nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử trên con đừờng tìm Đạo gặp gỡ và tu tập qua 53 vị thày (biểu tượng 53 bước tu tập để thành Phật bằng con đường Bồ tát Đạo) Trãi qua tất cả từ những vị thày từ nhửng kỹ nữ ăn chơi tới những Bồ tát lớn nhât Vị thày đầu tiên là Văn Thù Bồ Tát , tượng trưng cho Căn bản trí- là cái trí căn bản nằm tiển ẩn trong mọi chúng sanh nhưng không hiển lộ vì bị ngăn che bởi nhửng nghiệp lực..Vị thày thứ 53 sau cùng là Phổ Hiền Bồ Tát (tượng trưng cho hậu đắc trí là cái trí hiểu và ứng dụng được căn bản trí để có thể độ được chúng sanh-ý niệm từ Duy thức học). Sự thể hiện của hậu đắc trí có thể cảm nghiệm từ lục độ bước qua thập độ- Lục độ là bố thí, trì giới,nhẫn nhục,tinh tấn,thiền định và trí huệ. Bước qua thập độ thêm phương tiện , nguyện , lực,trí…Ta thấy lục đệ lục độ là trí mà thập đệ thập độ cũng là trí.Nhưng sự khác nhau là giữa căn bản trí và hậu đắc trí.
28 Tháng Tư 2016(Xem: 6995)
Tỳ-kheo có một nghĩa là bố ma, làm cho ma phải khiếp sợ. Ma chướng trong đường tu rất nhiều, bên trong và bên ngoài, thường gọi là nội ma ngoại chướng. Nhưng kỳ thực, có người tu không làm cho ma khiếp sợ mà ngược lại sợ ma, đi theo và làm quyến thuộc của ma. Nghĩa là bên trong không hàng phục được phiền não, bên ngoài không qua được chướng ngại. Thời Phật tại thế, Tỳ-kheo Đề-bà-đạt-đa là một điển hình.
23 Tháng Ba 2016(Xem: 7204)
Không phải ngẫu nhiên mà Đức Phật xem việc gần gũi vua quan là nạn, và mạnh mẽ cảnh tỉnh chúng Tăng: “Gần gũi bậc vua chúa vương gia có mười việc phi pháp”. Phi pháp ở đây là không phù hợp với Chánh pháp, không giúp ích cho việc thành tựu mục tiêu phạm hạnh và giải thoát của hàng xuất gia.
22 Tháng Ba 2016(Xem: 7311)
Người xuất gia mang trên mình pháp tướng đầu tròn, áo vuông, nguyện hủy hình để khác biệt với thế thường, sống đời thoát tục. Chưa nói đến tâm giải thoát hay tuệ giải thoát vốn ẩn tàng, sâu kín bên trong, hãy xem các hình thức bên ngoài như uy nghi và ứng xử trong đời sống hàng ngày thì phần nào cũng biết được công phu của hàng xuất sĩ.
20 Tháng Giêng 2016(Xem: 7921)
Thường thì khi chưa thành tựu về một điều gì chúng ta cảm thấy không vui. Nhưng khi đã toại nguyện, đã có những gì mong ước thì cũng chỉ vui được một thoáng rồi qua nhanh. Thực chất thì chưa được hay đã được đều có nỗi khổ riêng, vì cái tâm mong muốn của con người dường như không có điểm dừng.
13 Tháng Giêng 2016(Xem: 8138)
Ai cũng biết xuất gia tu hành đúng Chánh pháp thì gieo trồng được nhiều công đức, phước báo. Nhưng thực tiễn thì không phải ai cũng được xuất gia, nên Thế Tôn mới trợ duyên cho hàng Phật tử tại gia phát tâm xuất gia gieo duyên, có thời hạn, ít nhất là một ngày đêm tập sự xuất gia như tu Bát quan trai chẳng hạn.