Tùy lúc lễ lạy

22 Tháng Sáu 201503:20(Xem: 2611)

TÙY LÚC LỄ LẠY
Quảng Tánh

le baiLễ bái là một pháp tu phổ biến trong đạo Phật. Thường thì chúng ta lễ Phật, các vị Bồ-tát, chư vị Tổ sư để thể hiện sự tôn kính, lòng biết ơn, nguyện học tập theo công hạnh của các Ngài, nhất là để dẹp trừ bản ngã nhằm tiến tu đạo nghiệp.

Không chỉ lễ Phật, Bồ-tát và chư vị Tổ sư, người đệ tử Phật còn đảnh lễ chư Tăng, những bậc thầy hiện thế đang hướng đạo, giúp chúng ta hướng thiện, khai tâm mở trí cho chúng ta trong cuộc sống hàng ngày. Một số nơi, các Tỳ-kheo trẻ đảnh lễ chư vị Trưởng lão hay các Phật tử kính lễ chư Tăng mỗi ngày để cầu học, để được giáo huấn, để dẹp trừ ngã mạn và tăng trưởng phước báo.

Tuy vậy, sự lễ lạy không nên tùy tiện mà cần biết rõ phép tắc, lúc nào nên và lúc nào thì không nên. Lễ lạy vào những lúc không nên sẽ gây ra sự lúng túng, đánh mất nét tôn nghiêm cần có của việc lễ lạy. Đức Phật dạy có năm lúc không nên lễ người. Đó là “ở trong tháp không nên làm lễ, ở trong đại chúng không nên làm lễ, lại ở đường đi không nên làm lễ, đau bệnh nằm trên giường không nên làm lễ, nếu lúc ăn uống không nên làm lễ”.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

- Có năm lúc không nên lễ người. Thế nào là năm? Nếu ở trong tháp (thâu-bà) không nên làm lễ, ở trong đại chúng không nên làm lễ, lại ở đường đi không nên làm lễ, đau bệnh nằm trên giường không nên làm lễ, nếu lúc ăn uống không nên làm lễ. Đó là, này các Tỳ-kheo, có năm việc không nên làm lễ với người.

Lại có năm việc biết thời làm lễ. Thế nào là năm? Không ở trong tháp, không ở trong đại chúng, không ở trên đường đi, không bị đau bệnh, lại không phải lúc ăn uống. Đây nên làm lễ. Thế nên, các Tỳ-kheo, nên tạo phương tiện biết lúc mà hành.

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm Tà tư, 

VNCPHVN ấn hành, 1998, tr.364)

Như vậy, ngoài tâm cung kính, muốn đảnh lễ chư Tăng, cần phải hợp thời, tùy lúc chứ không nên tùy tiện. Ở đây, sự trang nghiêm của người được kính lễ là yếu tố cần thiết. Người kính lễ và người được kính lễ cần tuân thủ lời Phật dạy để tránh gây ra sự bất tiện đồng thời khiến cả hai đều được phước. Trong “năm lúc không nên lễ người” mà Thế Tôn đã dạy, có một yếu tố đáng chú ý là “lúc ăn uống không nên làm lễ”.

Trong mùa an cư kiết hạ của chư Tăng, các Phật tử thường cúng dường trai phạn hoặc trai tăng. Dĩ nhiên, Phật tử phát tâm cúng dường cần dâng lời tác bạch và tham dự lễ cúng quá đường. Nhưng một số nơi, sau khi cúng quá đường xong, lúc chư Tăng đang thọ trai, các Phật tử vẫn tiếp tục lên trước bàn hương án ở trai đường hay đến trực tiếp các bàn ăn của chư Tăng để lễ bái. Rõ ràng, theo lời Phật dạy, việc lễ bái này là không phải lúc.

Đành rằng chúng ta luôn đề cao tinh thần tùy duyên và tùy thuận. Tuy nhiên nếu tùy thuận mà không chỉ rõ phép tắc lễ lạy để hàng Phật tử thực hành đúng lời Phật dạy thì sự tùy thuận này cần được xem xét lại để điều chỉnh. Thiết nghĩ, nếu chưa có phép tắc thì mọi việc có thể tùy duyên, còn những việc gì Thế Tôn đã thiết định, đã có phép tắc thì cần y pháp mà hành trì. 

Quảng Tánh
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 2018(Xem: 373)
18 Tháng Mười Một 2016(Xem: 1232)
24 Tháng Năm 2016(Xem: 1301)
Tôi muốn lý giải về 10 lời nguyện này. Trong kinh hoa nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử trên con đừờng tìm Đạo gặp gỡ và tu tập qua 53 vị thày (biểu tượng 53 bước tu tập để thành Phật bằng con đường Bồ tát Đạo) Trãi qua tất cả từ những vị thày từ nhửng kỹ nữ ăn chơi tới những Bồ tát lớn nhât Vị thày đầu tiên là Văn Thù Bồ Tát , tượng trưng cho Căn bản trí- là cái trí căn bản nằm tiển ẩn trong mọi chúng sanh nhưng không hiển lộ vì bị ngăn che bởi nhửng nghiệp lực..Vị thày thứ 53 sau cùng là Phổ Hiền Bồ Tát (tượng trưng cho hậu đắc trí là cái trí hiểu và ứng dụng được căn bản trí để có thể độ được chúng sanh-ý niệm từ Duy thức học). Sự thể hiện của hậu đắc trí có thể cảm nghiệm từ lục độ bước qua thập độ- Lục độ là bố thí, trì giới,nhẫn nhục,tinh tấn,thiền định và trí huệ. Bước qua thập độ thêm phương tiện , nguyện , lực,trí…Ta thấy lục đệ lục độ là trí mà thập đệ thập độ cũng là trí.Nhưng sự khác nhau là giữa căn bản trí và hậu đắc trí.
28 Tháng Tư 2016(Xem: 1508)
Tỳ-kheo có một nghĩa là bố ma, làm cho ma phải khiếp sợ. Ma chướng trong đường tu rất nhiều, bên trong và bên ngoài, thường gọi là nội ma ngoại chướng. Nhưng kỳ thực, có người tu không làm cho ma khiếp sợ mà ngược lại sợ ma, đi theo và làm quyến thuộc của ma. Nghĩa là bên trong không hàng phục được phiền não, bên ngoài không qua được chướng ngại. Thời Phật tại thế, Tỳ-kheo Đề-bà-đạt-đa là một điển hình.
23 Tháng Ba 2016(Xem: 1488)
Không phải ngẫu nhiên mà Đức Phật xem việc gần gũi vua quan là nạn, và mạnh mẽ cảnh tỉnh chúng Tăng: “Gần gũi bậc vua chúa vương gia có mười việc phi pháp”. Phi pháp ở đây là không phù hợp với Chánh pháp, không giúp ích cho việc thành tựu mục tiêu phạm hạnh và giải thoát của hàng xuất gia.
22 Tháng Ba 2016(Xem: 1731)
Người xuất gia mang trên mình pháp tướng đầu tròn, áo vuông, nguyện hủy hình để khác biệt với thế thường, sống đời thoát tục. Chưa nói đến tâm giải thoát hay tuệ giải thoát vốn ẩn tàng, sâu kín bên trong, hãy xem các hình thức bên ngoài như uy nghi và ứng xử trong đời sống hàng ngày thì phần nào cũng biết được công phu của hàng xuất sĩ.
20 Tháng Giêng 2016(Xem: 2372)
Thường thì khi chưa thành tựu về một điều gì chúng ta cảm thấy không vui. Nhưng khi đã toại nguyện, đã có những gì mong ước thì cũng chỉ vui được một thoáng rồi qua nhanh. Thực chất thì chưa được hay đã được đều có nỗi khổ riêng, vì cái tâm mong muốn của con người dường như không có điểm dừng.
13 Tháng Giêng 2016(Xem: 1926)
Ai cũng biết xuất gia tu hành đúng Chánh pháp thì gieo trồng được nhiều công đức, phước báo. Nhưng thực tiễn thì không phải ai cũng được xuất gia, nên Thế Tôn mới trợ duyên cho hàng Phật tử tại gia phát tâm xuất gia gieo duyên, có thời hạn, ít nhất là một ngày đêm tập sự xuất gia như tu Bát quan trai chẳng hạn.
06 Tháng Giêng 2016(Xem: 2400)
Biện tài hay biện tài vô ngại là một trong những phẩm chất cần thiết của vị sứ giả Như Lai. Biện tài có nghĩa là tài hùng biện, biện luận tài giỏi, khả năng nói các pháp nghĩa một cách khéo léo trôi chảy, thuyết pháp lưu loát, có sức thuyết phục người nghe.