Lòng biết ơn

16 Tháng Sáu 201515:06(Xem: 1105)

AJAHN JAYASARO 
AJAHN SUMEDHO 
CÙNG NHIỀU TÁC GIẢ KHÁC 
CHA MẸ - CON CÁI, TÌNH THƯƠNG YÊU, LÒNG BIẾT ƠN & ... 
Tổng hợp & biên dịch 
Diệu Liên Lý Thu Linh & Diệu Ngộ Mỹ Thanh 
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2015

LÒNG BIẾT ƠN

Ajahn Sumedho

 

blank(1) Ajahn Sumedho, thế danh là Robert Kan Jackman. Ông sanh năm 1934 tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Mỹ và lớn lên trong một gia đình đạo Tin Lành cùng với một người chị. Từ năm 1951 đến 1953, ông học tiếng Trung Hoa và sử học tại Đại học Washington. Sau đó ông làm cán bộ y tế cho Hải quân Mỹ. Làm y tế được bốn năm, ông quyết định đi học trở lại và tốt nghiệp bằng cử nhân khoa Đông phương học. Nhờ ngành học này, ông được làm quen với Đạo Phật qua sách vở; và bốn năm làm y tế trong Bộ Hải quân Mỹ đã cho ông cơ hội tiếp xúc với Giáo hội Phật giáo Nhật Bản.

Năm 1966, ông đến Thái Lan, tìm hiểu thêm về đạo Phật, tu thiền và sau đó thọ giới sa di tại một ngôi chùa quê hẻo lánh, Wat Sri Saket, thuộc tỉnh Nong Khai, miền đông bắc Thái Lan. Sư tu học thiền minh sát (Vipassana) với ngài Ajahn Chah tại tu viện Wat Nong Pa Pong, thuộc tỉnh Ubon trong hơn 10 năm.

***

Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; . . . Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, họ nuôi dưỡng chúng, cho chúng cơm áo, sinh chúng ra đời.

Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.

(Tăng Chi Bộ Kinh, HT Thích Minh Châu, Chương 2, Phẩm Tâm Thăng Bằng)

***

Thiền Viện AMARAVATI – Một ngày đặc biệt. Buổi sáng nay nhiều người đã tụ họp về đây dự một buổi lễ theo truyền thống, để hướng về cha mẹ -những người đã quá cố hay vẫn còn hiện tiền. Vào ngày này, chúng ta nghĩ đến kataññu kataveti, trong tiếng Pali có nghĩa là biết ơn. Biết ơn là một hành động thiện trong cuộc sống; để phát triển kataññu chúng ta chủ tâm nghĩ đến những điều tốt đẹp chúng ta có được trong cuộc đời. Vì thế vào ngày này, chúng ta đặc biệt nghĩ đến những hành động thiện của cha mẹ và quán tưởng đến họ. Chúng ta không nghĩ đến những sai lầm của họ; thay vào đó, chúng ta cố ý chỉ nghĩ đến những điều tốt đẹp. Và sự tử tế mà cha mẹ đã dành cho ta –dầu trong một số trường hợp, không phải lúc nào tâm rộng lượng cũng có mặt. Đây là một ngày trong năm mà chúng ta nghĩ đến cha mẹ với lòng biết ơn và tưởng nhớ đến những điều tốt đẹp mà cha mẹ đã dành cho ta.

Sống mà không có lòng biết ơn là một cuộc sống vô nghĩa. Nếu cuộc đời chỉ là một chuỗi của những lời oán than về sự bất công, về những thua thiệt mà ta đã gặp phải, nhưng lại không nhớ đến những may mắn đã từng đến với ta, thì chắc chắn là chúng ta sẽ bị trầm cảm -một căn bệnh thường gặp trong xã hội ngày nay. Khi rơi vào trạng thái trầm cảm, chúng ta không thể nhớ có điều gì tốt đẹp đã xảy ra cho ta. Điều đó đã ngưng đọng trong trí não, và ta khó thể nghĩ là mình sẽ lại cảm thấy hạnh phúc bao giờ: trái lại ta nghĩ là sự khốn khổ này sẽ không bao giờ chấm dứt.

Ở Tích Lan, cũng như toàn châu Á, kataññu kataveti là một nét văn hóa; nó rất được coi trọng và dung dưỡng. Có khả năng hỗ trợ và chăm sóc cha mẹ được coi là phước lớn trong đời. Điều này khá thú vị đối với những ai đến từ nền văn hóa phương Tây, vì những giá trị phương Tây hơi khác hơn thế.

Nhiều người trong chúng ta được có cuộc sống sung túc, nhưng dầu được sinh ra trong hoàn cảnh may mắn, chúng ta thường coi đó là lẽ đương nhiên. Chúng ta có nhiều đặc quyền, nhiều bổng lộc, và một cuộc sống tốt đẹp hơn rất nhiều những gì mà nhiều dân tộc trên thế giới mong ước có được. Có rất nhiều điều để ta hàm ân, nhiều thứ để ta cảm thấy biết ơn, khi ta được sống ở một nơi như Anh quốc.

Tôi nhớ lại khoảng thời gian khi tôi còn là đứa trẻ, và cách mà cha mẹ tôi đã cống hiến cả cuộc đời họ để chăm lo cho tôi và chị gái tôi. Lúc nhỏ, tôi chẳng hề quan tâm về điều đó chút nào. Là một đứa trẻ Mỹ, chúng tôi không hề nghĩ gì về điều này, chúng tôi xem việc làm đó của cha mẹ là đương nhiên. Chúng tôi không hề nhận thức được những gì họ đã hy sinh, những gì họ đã chịu đựng để chăm lo cho chúng tôi. Chỉ khi đã lớn khôn, đã phải hy sinh nhiều thứ cho con cái hay cho người khác thì chúng tôi mới biết hàm ơn và cảm thấy biết ơn (kataññu kataveti) cha mẹ.

Tôi lại nhớ về cha tôi. Trước thời kinh tế khủng hoảng năm 1929, cha tôi là một nghệ sĩ có nhiều triển vọng. Rồi cuộc khủng hoảng xảy ra năm ’29 đã tước đi tất cả mọi thứ mà cha mẹ tôi sở hữu. Cha tôi vì thế phải đi bán giày để lo cho chúng tôi. Chị gái và tôi sinh ra trong thời kỳ Khủng Hoảng, nên ông phải lo cho chúng tôi rất nhiều. Rồi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cha tôi đã quá tuổi gia nhập quân đội, nhưng ông rất muốn ủng hộ cuộc chiến đó, nên ông trở thành một công nhân đóng tàu ở New Seattle. Ông làm việc ở một bến tàu. Ông cũng không thích công việc đó mấy, nhưng đó là công việc tốt nhất mà ông có thể tìm được trong thời kỳ thế chiến thứ hai. Sau thế chiến, ông trở về với việc kinh doanh giày và trở thành quản lý của một cửa hàng bán lẻ. Sau này lớn lên, khi nói chuyện với ông, tôi mới biết ông cũng không thật sự yêu thích công việc đó, nhưng ông cảm thấy mình không còn trẻ để có thể tìm được công việc nào khác. Việc ông phải hy sinh những sở thích của mình chính là để chăm lo cho mẹ tôi, chị tôi và tôi.

Ngược lại, tôi có nhiều lựa chọn hơn, nhiều cơ hội tốt hơn. Thế hệ những người trẻ chúng tôi sau này có quá nhiều lựa chọn. Tuy nhiên cha mẹ tôi thì không có những cơ hội như thế; thế hệ của họ cực nhọc hơn và phải tự lo thân khi còn khá trẻ. Cả cha và mẹ tôi đều có khả năng nhưng họ không có cơ hội để phát triển vượt lên cách kiếm sống bình thường.

Khi tôi lên đại học, vào những năm 1950, môn học thời thượng lúc bấy giờ là triết học. Lúc đó những người trẻ tuổi đều có xu hướng đổ lỗi cho người mẹ về tất cả những thất bại, bất như ý trong cuộc đời của họ. Người mẹ là đối tượng bị nhắm vào, bị gán là nguyên nhân của mọi khổ đau của con cái họ. Lúc đó tôi chưa nhận thức được rằng khổ là điều không thể tránh trong kiếp nhân sinh. Dĩ nhiên mẹ tôi cũng không hoàn hảo. Bà đâu phải là người đã giác ngộ khi sanh tôi ra, nên hiển nhiên là có nhiều điều bà có thể làm tốt hơn. Nhưng nói chung, sự hy sinh, tận tụy, tình thương yêu, lo lắng luôn có mặt – tất cả chính là để làm cho cuộc sống của cha tôi, chị tôi và tôi được tốt đẹp, được hạnh phúc trong khả năng mà bà có thể mang đến. Mẹ tôi không đòi hỏi gì riêng cho bản thân. Vì thế, khi nghĩ lại những điều như thế, thì lòng biết ơn (kataññu) đối với cha mẹ, phát khởi trong tôi. Giờ tôi khó lòng nhớ lại bất cứ sai lầm nào của họ; những sai lầm mà khi còn trẻ, chúng luôn ám ảnh trong đầu tôi; giờ những lỗi lầm đó quá nhỏ bé khiến tôi khó thể nhớ lại điều gì.

Tuy nhiên, nếu chúng ta để mãnh lực của thói quen và hoàn cảnh lôi kéo, chúng ta ít nhiều gì cũng dính mắc với tất cả những thứ ta đã khắc ghi trong lòng- với những thói quen mà ta đã huân tập từ khi còn bé –những thứ này có thể chiếm lĩnh tâm thức ta ở tuổi già. Nhưng khi lớn lên, trưởng thành, ta nhận thức là ta có thể phát triển sự thiện xảo trong cách mà ta nghĩ về bản thân, và trong cách mà ta nghĩ về người khác.

Đức Phật khuyên chúng ta nên nhớ nghĩ đến những điều tốt đẹp mà cha mẹ, các vị thầy, thân hữu, hay bất cứ ai, đã làm cho ta; và phải chú tâm làm điều này -vung trồng nó, chủ tâm đem nó vào tâm thức- hơn là để nó xảy ra một cách tình cờ, ngẫu nhiên.

Khi trở thành một tu sĩ Phật giáo ở Thái Lan, tôi may mắn được gặp vị thầy, Luang Por Chah (Ajahn Chah), người đã trở thành chất xúc tác cho lòng biết ơn (kataññu) trong tôi trỗi dậy. Lúc đó tôi khoảng ba mươi ba hay ba mươi bốn tuổi, và tôi phải thú nhận rằng tôi chưa hề có lòng hàm ân trong cuộc đời. Tôi vẫn còn chấp ngã nặng nề, lúc nào cũng là tôi muốn gì, tôi nghĩ gì. Tuy nhiên, sau một thời gian tu tập, khoảng năm thứ sáu trong cuộc đời tu của mình, tôi đã có được một trải nghiệm sâu sắc, một trải nghiệm được coi như là một trải nghiệm của lòng biết ơn (katannu katavedia).

Tôi đã xuất gia nhiều năm trước khi được gặp ngài Luang Por Chah. Tôi bị Phật giáo cuốn hút năm 21 tuổi, nên tôi rất ngưỡng mộ và tin tưởng vào Phật giáo, cũng như rất sốt sắng để học và thực hành Phật pháp. Nhưng tận cùng sâu thẳm vẫn là cái cảm giác của ngã chấp, của tôi tu học, tôi thực hành. Khi xuất gia, trong đầu tôi vẫn còn cầu mong: “Tôi muốn được giải thoát. Tôi muốn được giác ngộ”. Tôi không quan tâm đến người khác, đến cha mẹ, hay ngay cả đến ngài Luang Por Chah, là người đang giúp tôi tu học. Tôi cũng nghĩ là ngài rất tốt vì đã giúp đở tôi (xin ‘cảm ơn’), nhưng trong lòng tôi không có cảm giác hàm ân.

Thật là một ý nghĩ rất lạ kỳ, một loại suy nghĩ không tốt lành gì: Tôi nghĩ rằng đó là chuyện tự nhiên, rằng cuộc đời phải mang đến cho tôi những thứ đó -một thứ ngã mạn khó chấp nhận. Khi lớn lên trong sự đầy đủ của một gia đình thuộc giai cấp trung lưu, chúng tôi đã coi mọi thứ là chuyện đương nhiên. Cha mẹ tôi đã phải làm việc cực khổ để chúng tôi được sống thoải mái, nhưng tôi luôn nghĩ là họ chưa làm đủ bổn phận, và rằng đáng lý ra tôi phải được đầy đủ hơn nữa. Dầu đó không phải là những điều tôi nói ra, nhưng thái độ tôi tỏ rõ điều đó, rằng tôi xứng đáng được có tất cả mọi thứ: người khác phải chu cấp cho tôi tất cả; cha mẹ tôi phải mang đến cho tôi một cuộc sống tốt nhất, vì tôi muốn được như thế. Do đó, tôi nghĩ bổn phận của thiền sư Ajahn Chah là phải dạy dỗ, dìu dắt tôi!

Đôi khi tôi có ý nghĩ rằng sự có mặt của tôi là một đại phước, một tài sản quý báu cho tu viện. Tôi không thực sự ý thức về điều đó, nhưng khi tôi bắt đầu quán tâm tôi có thể thấy được ý nghĩ này, và bắt đầu ý thức đến sự vô cảm này. Chúng ta có thể xem thường rất nhiều thứ và than thở là cuộc đời không tốt, không hoàn hảo, không nhiều lợi lộc như chúng ta tưởng; tệ hơn ta luôn nghĩ là kẻ khác được nhiều may mắn hơn ta.

Khi ở Thái Lan, tôi tu hành tinh tấn và kiên định trong cuộc sống xuất gia. Sau năm mùa an cư, vị tăng sĩ không còn là sa-di nữa mà có thể tự đi con đường riêng. Dầu tôi cảm thấy ở bên cạnh một vị thầy cũng tốt thôi nhưng tôi cũng muốn đi con đường riêng của mình, nên từ Đông Bắc Thái tôi đến miền Trung Thái Lan. Rồi sau một mùa an cư tôi hành hương đến Ấn Độ. Đó là vào năm 1974, tôi quyết định đi như một vị tỳ khưu –đó là đi bộ từ nơi này đến nơi khác như một cách hành pháp của một vị tu sĩ. Một thí chủ đã cúng dường cho tôi vé bay từ Bangkok đến Calcutta, và ở Calcutta tôi vấn y, đi khất thực với bình bát –vì tôi không mang tiền – không một đồng xu. Đi khất thực ở Thái Lan thì dễ rồi, nhưng ở Ấn Độ, dường như việc đi lang thang với bình bát và không tiền bạc, có thể rất đáng sợ. Sự việc xảy ra là năm tháng mà tôi ở Ấn Độ quả là một cuộc phiêu lưu, và tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ về khoảng thời gian đó. Cuộc sống của một tu sĩ khất thực ở Ấn Độ rất suôn sẻ. Dĩ nhiên phải như thế vì so với tất cả các quốc gia khác, đây là nơi Đức Phật đã từng sống và giáo huấn.

Trong khoảng thời gian này tôi bắt đầu nghĩ đến Luang Por Chah. Tâm tôi bắt đầu nhận thức về sự tử tế mà ngài đã dành cho tôi. Ngài đã nhận tôi làm đệ tử, chăm lo cho tôi, quan tâm đến tôi, giáo huấn tôi và giúp đỡ tôi gần như trong mọi hoàn cảnh. Ngài còn là tấm gương để tôi soi. Nếu bạn muốn làm một tu sĩ, hãy làm người tu sĩ như ngài. Ngài là một người hoàn hảo, là người tôi muốn noi theo, là người truyền cho tôi cảm hứng –và tôi phải thú nhận rằng không có bao nhiêu người có thể khiến tôi suy nghĩ như thế. Nhiều mẫu thần tượng ở Mỹ không hấp dẫn tôi chút nào như tài tử John Wayne hay Tổng thống Eisenhower hay Richard Nixon đều là những người tôi không muốn noi theo. Các ngôi sao điện ảnh hay thể thao đều được coi là rất quan trọng, nhưng cũng không có người nào có thể khiến tôi cảm phục.

Nhưng rồi tôi được gặp vị tu sĩ ấy. Ông là người nhỏ thó; tôi cao ngất ngưỡng đối với ông. Khi chúng tôi ở cạnh nhau, điều này đôi khi làm tôi ngạc nhiên, vì sự có mặt của ông thì quá lớn. Không kể đến kích thước nhỏ bé của mình, ông dường như luôn to lớn hơn tôi. Uy lực, khí thế của người đàn ông nhỏ bé này thật đáng nể -tôi thực sự không thể coi ông là người nhỏ bé, tôi nghĩ ông là một đại nhân, và đó là vì tâm từ bi của ông. Ông là người có tâm từ bi vô lượng. Chính vì vậy mà người ta cảm thấy quí mến ông. Ông giống như một thỏi nam châm thu hút bạn đến gần với ông. Do đó những khi có thể tôi đều tìm đến thất của ông; tôi không bỏ cơ hội nào để được gần gủi, thân cận bên ông. Và tôi nhận thấy đó cũng là việc đa số các đệ tử thường làm đối với ông. Ông có rất nhiều đệ tử ở Thái Lan, cả người Thái và người Tây phương, do công hạnh từ bi của ông. Có lần tôi hỏi điều gì ở ông đã thu hút nhiều người tìm đến tu học với ông, và ông bảo, “Tôi cho đó là do thỏi nam châm của tôi”. Ông là người rất dễ gần; ông có đặc tính sôi nổi, nhiệt huyết, tõa sáng, vì thế các đệ tử theo ông rất đông. Ông đã dùng ‘thỏi nam châm’ của mình để thu hút người ta, để ông có thể dạy cho họ Phật pháp. Đó là cách ông sử dụng cá tính dễ gần của mình: không phải cho bản ngã, mà là để cứu giúp người.

Tôi cảm thấy vô cùng hàm ân vì những việc làm như thế này –rằng ông đã bỏ thì giờ, công sức để chăm lo cho cư sĩ và những tăng sĩ đầy nghiệp chướng như bản thân tôi, phải chịu đựng những người không ngừng tạo rắc rối như chúng tôi; chúng tôi luôn chấp ngã, luôn bám víu vào ái dục, nghi hoặc, ý kiến, quan điểm của mình. Cả ngày lẫn đêm bị vây chặt bởi những người không dừng phiền não, sân hận, người ta cần phải thực sự từ bi, và ông đã làm được như thế. Ông có thể đi đến một nơi thanh tịnh để sống bình an. Đó là điều tôi cũng muốn làm lúc đó. Tôi muốn được giác ngộ để có thể sống một cuộc sống hạnh phúc, bình an ở một nơi thanh bình, an vui. Tôi muốn tất cả mọi người trong tu viện phải hòa thuận, phải ăn ý và phải hòa nhịp với tôi để không có mâu thuẫn hay xung đột gì. Nhưng trong các tu viện Thái luôn có các vấn đề và chướng ngại. Kinh Luật (Vinaya Pitaka – là bộ kinh về giới luật do Đức Phật chế ra cho hàng đệ tử xuất gia) bao gồm tất cả các tích truyện về những gì các vị tu sĩ đã làm khiến Đức Phật phải chế ra các điều luật hướng dẫn này. Một số giới luật về những điều rất tồi tệ mà các tăng sĩ có thể phạm phải. Một số các vị tu sĩ ở bên cạnh Phật thật đáng trách.

Sau khi giác ngộ, lúc đầu Đức Phật đã nghĩ là giáo Pháp của ngài quá vi tế, khó ai có thể hiểu được, vì thế không ích lợi gì đem chúng đi truyền dạy. Sau đó, theo truyền thuyết, một trong các vị trời đã đến trước ngài và nói, ‘Bạch Thế Tôn, hãy vì lợi ích của những người có ít bụi trong mắt mà dạy Pháp’. Đức Phật sau đó với tâm trí tuệ đã quán xét xem những ai có thể hiểu được Pháp mà Ngài sẽ dạy. Ngài nghĩ đến các vị thầy trước kia của mình, nhưng với thần lực của mình, Ngài biết rằng cả hai đều đã qua đời. Rồi ngài nhớ đến năm người bạn đồng tu thuở xưa, những người đã từ bỏ ngài. Với lòng từ bi, ngài tìm đến năm người bạn này và giảng về Tứ Diệu Đế cho họ. Việc này cũng khiến tôi đầy hàm ân đối với Đức Phật. Thật tuyệt diệu: tôi đây –kẻ này, ở đây, trong thế kỷ này –được có cơ hội lắng nghe Pháp, được biết chơn pháp vẫn còn tồn tại.

Hơn nữa, có được một vị thầy như ngài Ajahn Chah, khiến tôi không phải chỉ tôn kính một vị tiên tri sống cách đây hơn 2500 năm, mà thực sự là tôi như được thừa kế sự truyền thừa của chính Đức Phật. Có thể nhờ được viếng thăm các thánh địa Phật giáo ở Ấn Độ mà lòng hàm ân (kataññu kataveti) trong tôi càng trở nên rất mãnh liệt. Nhận ra điều này và nghĩ đến Luang Por Chah ở Thái Lan, tôi nhớ lại mình đã suy nghĩ như thế nào trước đây: ‘Tôi đã hoàn tất năm năm tu học, giờ tôi phải ra đi. Tôi sẽ thực hiện vài cuộc phiêu lưu, làm tất cả những gì tôi muốn làm, thoát khỏi tầm kiểm soát của ông lão kia’. Tôi nhận ra rằng mình thực sự đã chạy trốn. Vào thời điểm đó có rất nhiều người Tây phương tìm đến tu viện của chúng tôi ở Thái Lan, nên tôi không muốn bị phiền hà vì họ. Tôi không muốn phải huấn luyện, thông dịch cho họ, tôi chỉ muốn sống cuộc đời của mình, không bị người khác quấy rầy. Do đó chuyện tôi ra đi là vì động cơ ích kỷ; hơn thế nữa, tôi đã bỏ Luang Por Chah lại với những thiền sinh Tây phương không biết tiếng Thái này. Lúc đó chỉ có tôi là có thể thông dịch cho họ vì Luang Por Chah không nói được tiếng Anh.

Khi tôi cảm nhận trạng thái đầy hàm ân (kataññu kataveti) này, tôi chỉ muốn trở lại Thái Lan để phục vụ Ajahn Chah hết mình. Làm sao tôi có thể trả ơn một vị thầy như thế? … Tôi không có tiền, mà ông cũng chẳng quan tâm gì đến thứ đó. Sau đó tôi nghĩ cách duy nhất mà tôi có thể làm để ông vui là trở thành một vị tu sĩ Phật giáo lỗi lạc, rồi trở về giúp đỡ ông; dầu ông muốn tôi làm gì, tôi cũng làm theo. Với dự tính đó, sau năm tháng ở Ấn Độ, tôi trở về lại Thái và dốc tâm phục vụ thầy. Đó là một sự cúng dường đầy hoan hỷ, không phải do ích kỷ, hẹp hòi, vì hành động đó phát xuất từ lòng biết ơn (kataññu), biết ơn về những điều tốt lành tôi đã thọ nhận từ thầy.

Từ đó trở đi, tôi nhận thấy việc hành thiền của mình bắt đầu có tiến bộ. Tâm ích kỷ sâu dày trong tôi bị vỡ nát: cái tôi muốn điều này điều nọ, muốn mọi người hòa thuận, cái tôi và tâm mong cầu tu tập để được một cuộc sống bình an, cái tôi không muốn có trách nhiệm với bất cứ điều gì mà chỉ muốn lo việc của riêng mình. Khi tôi buông được tất cả những thứ đó, mọi thứ dường như ổn định hơn. Những gì khi trước khó khăn, như định tâm chẳng hạn, trở nên dễ dàng hơn, và tôi cảm thấy cuộc sống vui tươi hơn. Tôi bắt đầu thích cuộc sống trong tu viện. Tôi không chỉ ngồi đó than thở, ‘Tôi bị quấy rầy, tôi không thích tu viện này – Tôi muốn chuyển đi nơi khác’, như tôi vẫn thường làm trước đây. Tôi cũng không thấy nhiều phiền não như trước kia: “Ông tăng này làm phiền tôi quá, tôi không thể sống ở đây’, vân vân. Tâm phiền não này thường là chướng ngại trong việc tu tập của tôi, nhưng giờ bỗng nhiên những điều này, và những gì xảy ra trong tu viện không còn là những vấn đề quan trọng đối với tôi nữa.

Thực sự tôi đã nghĩ là khi trở về, tôi sẽ xin Ajahn Chah gửi tôi đến một tu viện nơi không có vị sư nào muốn tới, giống như một tu viện nhánh gần biên giới Campuchia. Nơi đó được gọi là Chùa Bahn Suan Kluey, ‘Chùa Làng Vườn Chuối’. Chùa ở trong rừng sâu, không có đường xá, một vùng còn rất hoang sơ của Thái Lan, dân chúng thì rất nghèo khổ. Khí hậu nơi đó thường rất nóng, cây cối thì còi cọc, tôi không thấy có nhiều chuối mọc quanh đây! Tóm lại đến đó cũng giống như bị đày qua Siberia. Nên khi trở về, tôi đã đề nghị Ajahn Chah gửi tôi đến đó.

Ông không làm thế; nhưng ông khuyên tôi nên đến Bahn Bung Wai, là một làng cách tu viện chánh này khoảng sáu cây số. Do đó đến năm 1975 chúng tôi lập được chùa Pah Nanachat, “Lâm Viên Viện Quốc Tế- The International Forest Monastery” gần làng này. Trước khi chúng tôi đến thì nơi đó chỉ là một khu giữ cốt, nơi hỏa táng của làng, và người ta tin là khu rừng đó toàn là ma. Vì thế dân làng thường đến hỏi, “Có ổn không?” Lúc đầu chúng tôi không thực sự biết nơi này có ý nghĩa gì đối với dân làng. Nhưng rồi tôi nhận ra mình đang ở ngay tại chỗ mà những con ma tinh quái nhất trong khu rừng đang sống, vì thế vị trưởng làng thường đến thăm hỏi, ‘Sư ngủ có yên không? Có thấy gì khác lạ?’ Tôi thực sự chẳng thấy gì cả, mấy con ma đó chẳng quấy phá gì tôi. Nhưng kinh nghiệm sống ở đó đã giúp tôi chứng tỏ rằng mình thực sự sống cuộc đời của một tăng sĩ, và đó là nhờ vào lòng biết ơn (kataññu).

Điều đó cũng giống như khi tôi đến Anh quốc năm 1977. Khi Luang Por Chah yêu cầu tôi đến đây, tôi quyết định nghe theo, chứ không chỉ làm theo cảm tính hay trạng thái riêng tư nào của tôi –vì năm đầu tiên ở đây tôi cảm thấy rất bực bội, chỉ muốn quay trở lại Thái Lan ngay. Nhưng vì tình cảm biết ơn này mà tôi không hành động theo tánh bốc đồng của mình. Tình cảm này khiến tôi cảm thấy có trách nhiệm, phải phục vụ, nhưng không quá nặng nề, áp lực. Kataññu có nghĩa là tôi ở lại đây không vì cảm thấy trách nhiệm –là điều khiến cuộc sống mất vui- mà do tâm nguyện muốn phục vụ, muốn hy sinh. Đây là việc thiện lành đáng làm. Nhờ thế chúng tôi có thể cảm nhận được lòng biết ơn (kataññu) đối với những vị thầy như Luang Por Chah.

Nói về lòng biết ơn khiến tôi nhớ lại một câu chuyện khá lý thú. Vị tăng hướng dẫn tôi đến gặp Luang Por Chah cùng tuổi với tôi; thầy đã từng ở trong Hải quân Thái, còn tôi ở trong Hải quân Mỹ trong chiến tranh Hàn quốc. Thầy có thể nói thứ tiếng Anh pha tạp, đã từng tu theo tudong (khổ hạnh) –đã lang thang từ tỉnh Ubon, nơi Ajahn Chah từng sống, đến Nong Khai, nơi tôi đang có mặt. Đó là năm đầu tiên của tôi với tư cách là một sa-di, và thầy là vị sư Thái đầu tiên tôi gặp biết nói tiếng Anh, nên tôi thật vui mừng khi có người để trò chuyện. Thầy cũng rất nghiêm trì giới luật, giữ kỹ mọi luật lệ trong Luật tạng Vinaya. Thầy thọ thực ngay trong bình bát khất thực, mặc y màu nâu đậm của chốn núi rừng, trong khi ở tu viện nơi tôi sống, quý tăng sĩ mặc y màu vàng cam; thầy thực sự gây ấn tượng như là một vị tăng sĩ mẫu mực. Thầy khuyên tôi nên đến sống nơi ngài Ajahn Chah, để sau khi thọ giới tỳ kheo, vị pháp chủ sẽ cho phép tôi theo thầy đến ở với ngài Luang Por Chah. Nhưng trên đường đi tôi bắt đầu thấy bực bội với vị thầy này –người té ra rất khó chịu. Thầy không ngừng than phiền về mọi thứ, chê trách các vị sư khác, cho rằng tăng chúng nơi thầy ở là tốt hơn cả. Tôi không thể chịu được tính cao ngạo, hống hách của thầy, và cầu mong là ngài Ajahn Chah không giống như thế. Tôi hoang mang không biết mình đang rước thứ gì vào thân.

Khi đến Wat Pah Pong, tôi thở phào khi thấy ngài Ajahn Chah không giống như thế. Một năm sau, vị thầy đó, tên là Sommai, đã hoàn tục và trở thành một kẻ nát rượu. Chính cuộc sống nơi tu viện đã giúp thầy xa rời rượu chè, vì thế sau khi hoàn tục thầy quay lại với rượu, trở nên một người rất tệ hại, gây bao tai tiếng tại bang Ubon. Thầy trở thành người vô gia cư, một hoàn cảnh rất tệ hại, khiến tôi cảm thấy khinh bỉ, chán ghét thầy. Một chiều kia khi trao đổi với ngài Ajahn Chah về chuyện này, ngài đã nói: ‘Con phải luôn có lòng biết ơn (kataññu) đối với Sommai, vì chính thầy ấy đã mang con đến đây. Dầu thầy ấy có hành động tệ hại đến đâu, trở thành bệ rạc đến thế nào, con cũng phải đối xử với thầy ấy như là một minh sư, và phải tỏ lòng biết ơn. Con có thể là một trong những điều thực sự tốt lành đã xảy đến trong cuộc đời thầy ấy, một điều mà thầy ấy có thể tự hào; nếu con tiếp tục nhắc nhở thầy ấy về điều này -một cách khéo léo, không phải với cách làm thầy ái ngại- thì rồi thầy ấy dần dần có thể sửa đổi’. Vì thế Luang Por Chah khuyến khích tôi đi tìm Sommai, chuyện trò thân mật với thầy ấy, và bày tỏ lòng biết ơn với thầy ấy vì đã mang tôi đến với ngài Ajahn Chah. Đó đúng là một việc tốt đẹp nên làm. Khinh bỉ người đó và nói những lời như:’Thầy làm tôi thất vọng quá. Thầy thường chê trách người khác và nghĩ mình là tốt hơn cả, vậy mà giờ nhìn thầy kìa’, thật là việc dễ làm. Ta có thể tức giận và thất vọng với một người nào đó vì họ đã không sống đúng như chúng ta mong mỏi. Nhưng điều mà Luang Por Chah muốn dạy ta là: ‘Đừng làm như thế, chỉ tốn thời gian, gây thêm tổn hại, mà hãy hành động thiện lành vì lòng từ bi’. Tôi có gặp lại Sommai hồi đầu năm này, vẫn thảm thương như bao giờ; tôi không thấy thầy ấy có gì thay đổi. Tuy nhiên, bất cứ khi nào thầy nhìn thấy tôi, dường như điều đó tạo ảnh hưởng tốt cho thầy. Có lẽ thầy nhớ lại rằng thầy là người đã giúp tôi đến tu học với Luang Por Chah –và đó là nguồn hạnh phúc hiếm hoi trong cuộc đời thầy. Ta có thể cảm thấy rất vui khi có thể đem lại chút hạnh phúc cho một người rất bất hạnh.

Tương tự, tôi nghĩ tưởng đến các vị thầy mà tôi không được biết cụ thể, thí dụ như Alan Watts, tác giả của quyển ‘The Way of Zen’ (Phương Cách Thiền), là một trong những quyển sách Phật giáo tôi đọc sớm nhất. Quyển sách đã tạo ấn tượng mạnh cho tôi. Vào thời gian đó, có được cái gì về Phật giáo để đọc là một niềm vui, và tôi thường đọc đi, đọc lại quyển sách đó nhiều lần. Nhưng sau đó, tôi được biết ông cũng thay đổi. Tôi được gặp ông, khi tôi tham dự một số buổi nói chuyện của ông tại San Francisco, nhưng, dầu ông là một nhà hùng biện, còn tôi, lúc đó đang ở trong giai đoạn chuyên tu, ông cũng không thuyết phục được tôi.

Vì thế, giờ nhìn lại, tôi cảm thấy hàm ân (kataññu) đối với những vị như Alan Watts, các tác giả, quý thầy, những người đã khuyến khích, giúp đở tôi khi tôi cần đến. Họ đã làm gì sau đó, hoặc họ có sống như tôi mong mỏi hay không lại là chuyện khác. Có lòng từ bi và lòng biết ơn (kataññu) là không được chỉ trích, hay kết tội, hoặc chăm bẳm vào những điều không tốt đẹp của người; mà đó là khả năng chọn lọc và nhớ nghĩ đến những điều thiện lành họ đã làm.

Có được một ngày như thế này, khi chúng ta chủ tâm nghĩ đến cha mẹ với lòng biết ơn, là một cách để mang niềm hoan hỷ và những tình cảm tích cực đến trong cuộc đời ta. Buổi sáng nay, quý vị nguyện thọ Năm Giới và dâng cúng thực phẩm cho Tăng đoàn như một cách để nghĩ đến cha mẹ với lòng biết ơn là một cử chỉ đẹp. Ở những lúc như thế này, ta cũng nên nghĩ đến việc biểu hiện lòng biết ơn (kataññu) đối với đất nước mà ta đang sinh sống, vì ta thường xem đó là việc đương nhiên. Chúng ta có thể nghĩ đến những phúc lợi, những điều tốt đẹp mà đất nước, xã hội tạo ra cho chúng ta, hơn là chú trọng đến những cái chưa tốt, những điều ta không thích…. Chúng ta cần phát triển lòng biết ơn (kataññu), dầu tư tưởng hiện đại không khuyến khích ta làm thế. Đó không phải là yêu nước mù quáng hay có tính tự hào dân tộc quá đáng, nhưng đó là sự hàm ân và biểu hiện của lòng biết ơn về những cơ hội và những điều tốt đẹp mà ta được hưởng khi sống trong xã hội. Cách suy nghĩ như thế điểm thêm nét vui tươi cho cuộc đời thay vi nghĩ là đất nước này, xã hội này nợ tôi bao nhiêu thứ: ‘Tôi đáng được hơn thế nữa. Họ chưa đáp ứng cho tôi đầy đủ’. Cách suy nghĩ đó là của tâm lệ thuộc, đúng không?

Lần đầu tiên tôi để ý đến điều đó khi tôi ở trong Hải quân Mỹ trên tàu tiếp tế, thường đi lui tới giữa các căn cứ quân sự Nhật và Phi. Tôi rất thích làm lính biển, được ở ngoài biển khơi, nên tôi không có chi để phàn nàn. Tôi cảm thấy Á châu thật quyến rũ khi đến các nước Nhật, Hong Kong và Phi. Tôi nhớ lần đầu tiên đến Hong Kong vào năm 1955, tàu vào bến cảng, tôi rất hào hứng về việc được đi thăm thành phố này. Tôi cố rủ ai đó đi chung, nhưng họ từ chối, ‘Ý, tôi không thích Hong Kong đâu’. Tôi thì quá hứng thú nhưng không tìm được ai để đi với mình. Những người khác có xuống tàu thì cũng chỉ để đi đến lầu xanh, quán bar –họ chỉ nhìn thấy Hong Kong như thế. Đúng là một trạng thái tâm tiêu cực phải không? Quân lính Mỹ những ngày ấy không được sáng suốt lắm. Nếu nơi nào không phải là Des Moines, Iowa, thì nơi ấy không tốt. Họ không tìm thấy vẻ đẹp ở những nơi xa lạ, họ chỉ thấy đó không phải là Des Moines, Iowa hay Birmingham, Alabama.

Tôi phục vụ bốn năm trong Hải quân, suốt khoảng thời gian đó tôi phải luôn nghe những lời ta thán. Những người lính trên tàu kêu ca đủ thứ chuyện. Thực ra thời gian đó, ở trong quân đội chúng tôi được biết bao quyền lợi –thí dụ như những cơ hội về giáo dục. Nhờ đã phục vụ trong quân đội, tôi được học bổng trong bốn năm đại học, cũng như rất nhiều thứ khác mà giờ tôi cảm thấy rất hàm ân. Mặc dầu vậy, thái độ của mọi người là cố vơ vét càng nhiều càng tốt từ quân đội, và sử dụng chúng cho mục đích riêng tư; ta thán về tất cả mọi thứ và luồn lách bằng mọi cách. Ngay cả điều họ đang làm là phạm pháp, vô đạo đức, cũng được –miễn là không bị bắt gặp tại trận. Và thực tại đó là trong một xã hội có thể cung ứng tất cả cho họ! Cuộc sống được đảm bảo, nhưng thái độ của họ là: ‘Cho tôi, cho tôi, cho tôi. Tôi được lợi gì trong đó?’ Kết quả là nó trở thành một xã hội đầy tiêu cực, trong đó mọi người ta thán, kêu ca không dứt.

Nên hôm nay là ngày để ta phát khởi kataññu (lòng biết ơn). Đừng nghĩ rằng đó chỉ là một ngày để ta có thể sống tình cảm. Kataññu là một phương cách tu tập ta phải phát triển trong cuộc sống hằng ngày, vì nó mở rộng trái tim ta, đem hoan hỷ đến trong cuộc sống của ta. Và chúng ta cần niềm hoan hỷ đó. Nó nuôi dưỡng ta, nó cần thiết cho sự phát triển tâm linh của ta. Hỷ là một trong những yếu tố giác ngộ. Cuộc sống không có niềm hoan hỷ sẽ rất đáng sợ - u ám, tẻ nhạt và buồn chán. Nên ngày hôm nay là ngày để dành cho những hồi tưởng vui tươi.

CÂU HỎI 1

Câu Hỏi: Làm thế nào để người có rất nhiều nỗi oán hận đối với cha mẹ có thể phát triển lòng biết ơn đối với cha mẹ?

Ajahn Sumedho: Đây không phải là một vấn đề cá biệt, vì Sư biết rằng giảng dạy về lòng từ bi trên một nền tảng tình cảm có thể thực sự làm gia tăng sự sân hận. Sư nhớ có một nữ thiền sinh trong một khóa tu, bất cứ khi nào đến phần thực hành trải tâm từ bi đến cho cha mẹ là bà nổi cơn giận. Sau đó bà cảm thấy rất hối hận về việc đó, vì bà không thể tha thứ và phát khởi tâm từ bi đến cho mẹ bà. Mỗi khi nghĩ đến mẹ, bà chỉ có lòng oán thù. Đó là vì bà chỉ sử dụng cái đầu; bà muốn thực hành tâm từ bi, nhưng bà không cảm thấy gì ngoài sân hận.

Điều quan trọng là phải thấy ra sự xung đột giữa cuộc sống lý trí và tình cảm. Chúng ta biết trong đầu là phải tha thứ cho kẻ thù và thương yêu cha mẹ, nhưng trong tim chúng ta cảm thấy, ‘Tôi không bao giờ có thể tha thứ cho họ về những gì họ đã gây ra cho tôi’. Rồi sau đó chúng ta hoặc cảm thấy giận dữ hoặc oán trách, hay chúng ta sẽ lý luận rằng: ‘Vì cha mẹ chúng ta quá tệ, quá đáng ghét, quá bất nhân, họ khiến ta phải quá khổ đau đến nỗi ta không thể quên hay tha thứ lỗi lầm của họ’, hay: ‘Chắc tôi là người không bình thường, tôi là kẻ xấu xa vì tôi không thể tha thứ. Nếu tôi là người tốt, tôi đã có thể tha thứ rồi, do đó chắc chắn tôi phải là kẻ không ra gì’. Đây là những xung đột xảy ra giữa cuộc sống lý trí và tình cảm. Khi chúng ta không hiểu về sự xung đột này, chúng ta cảm thấy hoang mang; chúng ta biết mình nên cảm thấy như thế nào nhưng chúng ta không thực sự cảm thấy như thế.

Với lý trí chúng ta có thể tính toán mọi thứ hoàn hảo; chúng ta có thể tạo ra những hình ảnh và tư duy tốt đẹp trong tâm trí. Nhưng trạng thái tình cảm thì không thể lý giải. Đó là bản chất của tình cảm. Nó không tuân theo những gì hợp lý, lô-gic, biết điều –vì thế trên bình diện tình cảm, chúng ta phải hiểu chúng ta thực sự cảm giác thế nào. Tôi cảm thấy việc có lòng từ bi đối với tình cảm cá nhân của mình rất có ích lợi. Vì thế khi cảm thấy cha mẹ chúng ta tàn nhẫn, vô tâm đối với chúng ta, ta có thể trải tâm từ bi đến với cảm giác trong tim ta; không phán xét, nhưng có lòng kiên nhẫn đối với tình cảm đó –để thấy rằng tình cảm của ta là như thế đó, rồi chấp nhận tình cảm đó. Sau đó ta có thể giải tỏa tình cảm đó. Nhưng khi ta bị mắc kẹt trong một trận chiến giữa tư duy lô-gic và những phản ứng tình cảm, thì ta sẽ rất hoang mang.

Một khi tôi đã bắt đầu chấp nhận đặc tính tiêu cực của mình hơn là đè nén nó, tôi có thể giải tỏa nó. Khi chúng ta giải quyết điều gì đó với chánh niệm, thì chúng ta có thể buông bỏ và giải thoát bản thân khỏi áp lực của việc đó –không phải bằng cách trốn tránh hay chối bỏ, nhưng bằng sự cảm thông, chấp nhận tình cảm tiêu cực đặc biệt đó. Giải pháp của xung đột hướng ta đến sự quán tưởng về ý nghĩa của cuộc đời.

Cha tôi mất sáu năm trước đây. Lúc đó ông đã chín mươi tuổi. Ông chưa hề bày tỏ tình thương hay sụ tử tế nào đối với tôi. Vì thế từ thời thơ ấu tôi đã có cảm giác rằng ông không hề thương tôi. Tôi mang cảm giác này đi gần suốt cuộc đời mình. Tôi cũng chưa bao giờ có tình cảm yêu thương, hay bất cứ mối liên hệ mật thiết nào với cha tôi. Lúc nào ông cũng nói một cách máy móc: “À con, gặp con vui rồi”. Hình như ông không cảm thấy thỏai mái với sự có mặt của tôi. Tôi nhớ, mỗi khi tôi trở về nhà với tư cách là người tu sĩ Phật giáo, ông thường nói, “Hãy nhớ, đây là nhà của cha, con phải làm theo ý cha”. Đó là câu chào hỏi của ông –khi tôi đã gấn năm mươi tuổi đầu! Tôi không biết ông nghĩ là tôi sẽ làm gì!

Khoảng mười năm cuối đời, ông khá khổ, và trở nên quạu quọ. Ông bị viêm khớp khá nặng, nên luôn bị đau đớn. Ngoài ra, ông còn bị bệnh Parkinson, nên mọi thứ đều trở nên tồi tệ. Dần dần chúng tôi phải đưa ông vào nhà dưỡng lão. Ông hoàn toàn bại liệt. Ông có thể chuyển động mắt và trò chuyện, nhưng toàn thân hoàn toàn bất động, cứng ngắt. Ông rất ghét điều đó. Ông buồn phiền về những gì đã xảy ra cho mình vì trước kia ông từng là một người đàn ông mạnh khỏe, rắn rỏi, tự lập. Ông từng có khả năng làm chủ và quản lý tất cả mọi việc trong cuộc đời mình. Vì thế ông ghét và bực tức về việc phải phụ thuộc vào các cô y tá để cho ông ăn, vân vân.

Lần đầu tiên trở về Mỹ, tôi nhớ đã trao đổi với chị tôi về cha mẹ. Chị bảo cho tôi biết cha tôi là người rất biết điều. Ông rất quan tâm, biết điều đối với mẹ tôi. Ông luôn sẵn sàng giúp đỡ mẹ tôi khi bà mệt hay không khỏe -một người chồng rất nhiệt tình. Vì gia đình tôi thường vẫn như thế, nên tôi chẳng bao giờ nhận ra những đức tính này. Chị tôi nói rằng không có nhiều người chồng biết giúp đỡ hay nhiệt tình với vợ như thế. Ở thế hệ cha tôi, quyền phụ nữ và nữ quyền không phải là một vấn đề. ‘Tôi mang tiền về nhà, còn bà lo việc bếp núc, giặt giũ’, đó là quan niệm của xã hội thời đó. Lúc đó tôi nhận ra rằng không những tôi hoàn toàn coi thường những đức tính tốt đẹp đó, mà tôi còn không nhận ra chúng.

Lần cuối cùng khi đến thăm cha, tôi đã quyết định sẽ tạo ra một không khí ấm cúng giữa hai chúng tôi trước khi người ra đi. Chỉ nghĩ đến điều này thôi tôi đã thấy khó, vì tôi từng sống với ý nghĩ là ông không hề thương tôi. Thật khó để vượt qua những suy nghĩ như thế. Tuy nhiên, thân ông cần được khởi động, nên tôi nói, ‘Để con xoa bóp chân ba”. “Không, con không cần phải làm thể”, ông nói. Tôi nói, “Ba cần phải được xoa bóp, nếu không nằm một chỗ sẽ bị hâm da’. Nhưng ông vẫn nói, ‘Không, con không cần phải làm thế’. Tôi nói, ‘Con thực sự muốn làm thế mà”. Cha tôi vẫn cố từ chối, nhưng tôi thấy ông có vẻ đang lưỡng lự. Rồi tôi nói, ‘Cần phải làm thế ba à, và con thực sự muốn làm thế’. ‘Con thực muốn làm thế à?’ ông nói. ‘Dạ,’ tôi nói.

Tôi bắt đầu xoa bóp chân, đùi, cổ, vai, tay và mặt ông; ông thật sự thích thú sự tiếp xúc gần gũi này. Đó là lần đầu tiên ông được tôi chăm sóc như thế. Tôi nghĩ người già cần sự tiếp xúc này vì sự xúc chạm vật lý này đầy ý nghĩa, nó là một cách để biểu hiện tình cảm. Và tôi bắt đầu nhận ra rằng cha tôi thực sự rất thương yêu tôi, nhưng ông đã không biết làm sao diễn tả điều đó vì cách ông được giáo dục. Ông lớn lên trong một môi trường giáo dục rất nghiêm khắc. Gia đình ông không bày tỏ tình cảm ra ngoài, không ôm ấp, nựng nịu con cái. Họ không có những sự bùng nổ tình cảm trọng đại, tình cảm luôn được kiểm soát. Giờ thì tôi hiểu là cha tôi cũng tràn đầy tình thương, nhưng ông không thể biểu lộ tình cảm vì ông không được giáo dục như thế. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và tràn đầy lòng biết ơn. Khi còn trẻ, tôi không hiểu ông vì không biết ông đã được dạy dỗ khi lớn lên như thế nào. Chỉ khi đã lớn tuổi, tôi bắt đầu hiểu hậu quả của sự giáo dục như thế; một khi đã được rèn luyện theo khuôn mẫu đó, thật khó để bỏ thói quen đó.

Những ai đã từng chăm sóc người nằm một chỗ hay bại liệt đều biết rằng đôi khi người bệnh rất khó tính, thích gây gổ. Chúng ta có thể nghĩ là mình đang giúp đở họ, nhưng họ khá độc đoán vì khi người ta trở nên bất lực như thế họ trở nên rất nhạy cảm đối với thái độ hống hách của người nuôi bệnh: ‘Để tôi giúp bạn – bạn là người tàn tật’. Điều này cũng đúng khi người trẻ chăm sóc người già.

Tám năm trước đây, có một ông lão muốn đến tu viện để được qua đời tại đây. Ông là người Anh, 80 tuổi, đã theo Phật giáo từ năm 1937, và bị bệnh ung thư giai đoạn cuối. Ông là người rất lịch sự. Do đó ông đã đến ở tu viện Amaravati này và người trong nhóm Phật tử Harlow mà ông đã thành lập và động viên, thường đến chăm sóc ông; khi họ không đến được thì quý sư sẽ chăm sóc ông. Tôi để ý thấy một số sư có thái độ ban ơn. Nhưng ông lão đâu có để cho họ làm thế: ‘Tôi có thể sắp chết, nhưng tôi không phải là kẻ ngu’, ông nói, nhấn mạnh cho các vị này biết là ông không thể chấp nhận cách đối xử như thế. Vì thế, chúng ta phải cẩn thận khi chăm sóc người già hay người bệnh, chúng ta phải chánh niệm về cách ứng xử của mình.

Khi quán sát cuộc đời từ góc cạnh lịch sử, ta thấy cuộc đời luôn đầy khổ đau. Khi thăm viếng một nghĩa trang, đọc qua các bia mộ, ta có thể thấy nhiều tấm dành cho các em bé hay là phụ nữ trẻ -chừng khoảng hai mươi mấy- chết khi sinh sản. Điều đó thường xảy ra ở Anh quốc khoảng 100 năm trước. Thai phụ thường mất mạng khi sinh nở. Giờ thì khi chuyện đó xảy ra, chúng ta ngạc nhiên và phẫn nộ. Chúng ta nghĩ cuộc sống phải thay đổi, phải công bằng. Những gì ta mong mỏi, chờ đợi rất cao; chúng ta có thể rất hay chỉ trích vì chúng ta nghĩ là cuộc sống phải mỗi ngày một tốt hơn. Tuy nhiên, dầu chúng ta có mọi thứ đi nữa, cuộc sống vẫn có thể thiếu niềm vui. Do đó vấn đề là cách ta nhìn cuộc sống, và chúng ta đã phát triển tâm như thế nào mới là điều đáng kể -điều đó không liên hệ gì đến tài sản, danh vị hay ngay cả sức khỏe.

Sống là một trải nghiệm đầy khó khăn, và nó luôn đi tới. Ta cứ phải học hỏi cho đến ngày ra đi. Cuộc sống không dễ, nhưng ta cứ tưởng nó không phải vậy, cứ muốn nó phải dễ dàng. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng cuộc sống cần phải khó khăn, có thế ta mới học hỏi, tu tập được.

Câu Hỏi 2

Câu Hỏi: Thưa, Sư giảng giùm con về ‘Tứ Vô Lượng Tâm’ (Four Brahmaviharas).

Ajahn Sumedho: Tứ Vô Lượng Tâm – metta (từ), karuna (bi), mudita (hỷ), upekkha (xả) – được gọi là những Trú Xứ Thánh Thiện (Divine Abodes). Chúng là những trạng thái tâm trong sạch. Là bản chất tự nhiên của tâm trong sạch. Tâm được coi là thuần khiết khi ta tự giải thoát mình khỏi các tư lợi –tham, sân và si. Khi tâm không bị vướng mắc trong những thứ ấy, thì Vô Lượng Tâm là trú xứ tự nhiên của nó.

Từ (Metta) là thái độ chung đối với mọi chúng sinh -một cảm giác của sự kiên nhẫn, thương yêu, và sự vắng mặt của sự tìm lỗi. Bi (Karuna) tựa như lòng bi mẫn; là sự cảm thông với nỗi đau của người, nhận thức được thế nào là khổ. Đó là nơi chúng ta cảm thấy cảm thông và bi mẫn với người, không giống như tình cảm thương hại người khác. Mudita được dịch là hoan hỷ; là niềm vui chúng ta có được khi nhìn thấy người khác được hạnh phúc. Niềm vui chúng ta tìm thấy trong nét đẹp thiện lành của người. Nó trái ngược lại với ghen ghét. Thường khi ta thấy người khác đẹp hơn, giàu hơn, chúng ta cảm thấy ganh tỵ. Nhưng hoan hỷ là đức tính của sự mừng vui, tán thán cái đẹp, sự thành công của người khác. Và upekkha là sự xả bỏ của tâm –sự tĩnh lặng và quân bình của tâm.

Như thế đây là những đức tính thánh thiện, nhưng chúng có thể được trải nghiệm trong cõi người. Tôi cảm thấy dễ bi mẫn đối với những người khốn khổ, bị áp bức, với thú vật, với những chúng sanh kém may mắn hơn bản thân tôi. Tôi chưa bao giờ cảm thấy thích thú khi làm hại hay bắt nạt người khác. Nhưng điểm yếu của tôi là tôi thường cảm thấy ganh tỵ, ghen ghét với những người hơn tôi, và tôi cũng thường chỉ trích họ, tìm cách hạ uy tín họ. Thật rất khó để mong cho ai đó được điều tốt lành, khi họ hơn hẳn ta. Nên hỷ đối với tôi là một đức hạnh rất quan trọng để quán tưởng. Thật tuyệt vời để hoan hỷ trong việc thiện lành, sắc đẹp và sự thành công của người khác. Do đó tôi quán tưởng về nó và vung trồng nó thật nhiều để có thể mang được đức tính này vào cuộc sống của tôi.

Trong bốn tâm vô lượng này, từ -metta- là căn bản, và xả (Upekkha) –tâm xả bỏ, an tĩnh- là kết quả của tâm từ đó. Karuna (bi) và mudita (hỷ) là phản ứng đối với cuộc sống quanh ta –đối với những khổ đau và hạnh phúc trong cuộc đời ta. Trước đây tôi thường cảm thấy giận dữ, phẫn nộ khi nghe những chuyện khủng khiếp, như là một nhóm người xấu xa nào đó tấn công nhóm người vô tội, hay sự tàn sát hàng loạt như là vụ Khmer Đỏ tàn sát hàng loạt người dân Campuchia. Tôi có thể hiểu cảm giác muốn trả thù, muốn đòi công bằng trong những trường hợp đó. Nhưng khi quán tưởng về các cảm giác này, tôi nhận ra rằng chúng không phải là những điều tôi muốn hành động, vì chính sự trả thù và những tình cảm oán thù khiến cho những điều khủng khiếp như thế xảy ra. Nếu bạn đánh tôi, tôi sẽ đánh lại bạn, rồi khi tôi đánh bạn, bạn sẽ đánh lại tôi, rồi tôi đi đến chỗ giết bạn. Rồi người thân của bạn sẽ giết người thân của tôi. Chúng ta có thể thấy điều đó trong các phong trào khủng bố. Họ đi tìm nhau để trả thù và giết hại lẫn nhau –điều đó cứ tiếp diễn. Nên giờ nó phải chấm dứt.

Các trú xứ thánh thiện này, bốn vô lượng này, là những điều đáng suy gẫm và là phương cách để phát triển tâm tha thứ, là những đức hạnh trong cuộc sống và chúng có thể mang đến nét đẹp và sự hoàn hảo cho nhân loại.

Câu Hỏi 3

Câu Hỏi: Làm thế nào chúng ta có thể phát triển từ bi trong khi ta chứng kiến bao khổ đau, bất công trên thế giới?

Ajahn Sumedho: Chúng ta cần quán chiếu các hành động của mình, và chủ đích của chúng, quán tưởng về hậu quả của chúng, cả hai mặt tốt và xấu. Nếu tôi quán tưởng về các vụ giết người ở Rwanda, và bảo rằng các nạn nhân bị giết là do nghiệp của họ, thì thật quá nhẫn tâm. Giống như một sự quay lưng. Ở Ấn Độ, đôi khi ta gặp những kẻ ăn xin, người phong cùi, nếu ta phớt lờ họ bằng cách cho rằng đó là nghiệp của họ, thì đó chỉ là chúng ta không muốn bị bận tâm về họ. Đó thực sự không phải là cách ta nên quán tưởng về luật nhân quả. Đó chỉ là cách ta sử dụng luật nhân quả để gạt vấn đề qua một bên.

Tháng sáu vừa rồi tôi đến Delhi. Trời thật nóng: 46°c. Lúc này ở Ấn Độ đã cho phép uống Coca Cola. Ở Delhi, ai cũng uống Coca Cola. Tôi đi chung xe với những người đang cho tôi tạm trú, và họ dừng xe ở một cửa tiệm để mua Coke. Lúc đó tôi thấy hai phụ nữ bệnh phong trẻ. Một người đẩy chiếc xe và người còn lại ngồi trong xe, tay bồng một cô gái nhỏ. Họ đang xin ăn ngoài cửa tiệm. Cả hai người phụ nữ đều xinh xắn, mặt họ không xấu hay bị biến dạng, chỉ có tay họ bị phong rút –và nhìn họ cũng không đến nỗi khổ sở lắm. Họ có vẻ sáng sủa, tươi tắn. Dầu sự đau đớn thể xác của họ không nhỏ, tôi có cảm giác họ chấp nhận sự việc đó khá tốt. Trong khi ở đây (ND-Anh quốc), ta thường thấy những người hết sức trầm cảm, đầy tiêu cực; dầu họ chẳng có bệnh gì nơi thân, nhưng tâm họ không lành mạnh. Tôi gọi đó là sự thống khổ cùng cực. Bạn sẽ thấy bệnh trầm cảm này ngay cả ở những người giàu nhất. Họ thấy cuộc đời họ chẳng có ý nghĩa gì, nên họ bám chặt vào sở hữu vật chất của họ. Tôi thà ở gần người bệnh phong hơn kẻ chán đời!

Trong quyển sách ‘Thành phố của Niềm Vui – City of Joy’, do một Giám mục Thiên chúa giáo người Ba Lan viết khi ông đến sống tại một khu ổ chuột tồi tệ nhất ở Calcutta. Đó là khu ổ chuột tồi tệ nhất, nghèo nàn nhất của những người bệnh phong. Nơi đó được gọi là Anandanagar – City of Joy (Thành phố Của Niềm Vui). Ông tả lại cuộc sống của những người bệnh phong và niềm vui, tinh thần lạc quan của họ. Dầu nghèo nàn, khổ sở, cuộc đời bất hạnh, họ vẫn tràn đầy niềm tin. Chúng ta sẽ cảm thấy lòng tràn đầy kính phục đối với những con người khi, dầu ở trong những hoàn cảnh xấu nhất, họ cũng không để bị khuất phục. Chuyện kể rằng có một người phu xe vất vả ngày đêm để có đủ tiền gả con gái chứ không để cô thành gái điếm. Dầu không mấy ai trong chúng ta phải ở trong hoàn cảnh tồi tệ như thế -phải kéo xe để có tiền gả con gái đàng hoàng. Nhưng người phu xe cuối cùng cũng thành công trong việc tìm cho con gái một tấm chồng xứng đáng. Hành động này thật cao cả; ta có thể thấy được tinh thần tự trọng của những người như thế.

Nhưng ở những nơi như Rwanda, dường như đầu óc ma quỷ đã chiếm lĩnh, ở đó chỉ có sự tàn nhẫn cùng cực, đến mức độ mà dường như nhân tính đã biến mất. Mà những con người này không phải là người bệnh phong. Họ là những con người bình thường nhưng tràn đầy lòng hằn thù, nên họ có thể đập đầu phụ nữ, trẻ em và nhúng tay vào những tội tàn ác nhất. Những thứ đó từ đâu đến? … Điều đó cũng có thể xảy ra cho chúng ta. Điều đó cũng nằm trong những hành vi khả thi của nhân loại mà.

Ở Amaravati, tôi quán chiếu tâm mình. Chúng ta có thể than phiền rất nhiều điều về Amaravati; tâm thường than vản khi chúng không thích điều gì. Nhưng là những người tu sĩ Phật giáo, chúng ta đã tự rèn luyện để chỉ quán tưởng về những gì ta có; đó là bốn thứ ta cần –chiếc bình bát, chiếc y, thuốc men cho những khi đau ốm và một chỗ nương thân. Do đó, tôi quán tưởng: ‘Tôi đã dùng bữa hôm nay rồi; tôi có y áo và một nơi để ngã lưng’. Rồi tôi nghĩ, ‘Tôi còn có giáo pháp và khả năng được sống với những thiện hữu tri thức’. Vì thế tôi hàm ân về những gì tôi có được, hơn là bị vướng mắc vào các trạng thái tâm khó chịu mà chúng có thể làm chủ tôi, nếu tôi cho phép chúng làm thế.

Chúng ta thường luôn nghĩ cuộc sống phải lý tưởng như thế nào, dựa trên những khả năng cao độ nhất. Vì thế ta chỉ có thể cảm thấy là có điều gì đó không ổn đối với cuộc sống hiện tại. Nhưng cuộc sống ít khi nào ở đỉnh điểm. Chúng ta có những lúc thăng hoa, nhưng không thể kéo dài chúng mãi. Phần lớn cuộc sống của chúng ta không giống như thế, mà nó giống như hiện tại. Trong khi hành thiền chúng ta tập theo dõi dòng chảy của cuộc sống, và chúng ta rút ra bài học từ đó –tốt hơn là nghĩ có điều gì không ổn trong cuộc sống khi nó không như ý ta muốn.

Nhờ hành thiền, chúng ta có thể buông bỏ mọi thói quen và sự chống đối đối với cuộc sống. Chúng ta thường để bản thân vướng mắc vào những bận rộn, những bộc phát, nên chúng ta không nhận thức được rằng để sống làm người, chúng ta thực sự không cần nhiều thứ lắm. Tất cả mọi người đều nghĩ là mình cần có một cuộc sống vật chất cao với đủ loại tiện nghi, nhưng thực sự là, nếu chúng ta phải từ bỏ chúng, ta vẫn có thể rất hạnh phúc. Chúng ta không cần phải đến sống ở City Of Joy (Thành phố của Niềm Vui) để chứng nghiệm điều đó, chúng ta vẫn có thể thấy được điều đó trong cuộc sống hằng ngày. Chất lượng cuộc sống thực sự tùy thuộc vào cách chúng ta suy nghĩ và hành động. Nếu chúng ta có thể vung trồng một tâm an lạc, tự tại, chúng ta không còn cần phải mua sắm thứ này thứ nọ, hoặc muốn cuộc sống phải bảo đảm và dễ chịu. Một khi tâm ta được an lạc, không ai có thể tước đoạt nó từ ta. Nhưng một ngôi nhà đẹp đẽ có thể bị thiêu hủy, côn đồ có thể đến chiếm đoạt, một con đường cao tốc có thể chạy qua phòng khách nhà; bao nhiêu thứ có thể xảy ra!

Diệu Liên Lý Thu Linh

(Chuyển ngữ từ Gratitude to Parents, www.amaravati.org)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn