THIỀN LÀ GÌ?

15 Tháng Mười Một 201611:17(Xem: 1169)
THIỀN LÀ GÌ?
SUZUKI DAISETZ
ĐÀO NGUYÊN MINH dịch

 

Thiền là sự rèn luyện để giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là giải thoát. Và giải thoát thì không kém gì tự do. Chúng ta nói rất nhiều ở thời đại này về đủ thứ tự do, chính trị, kinh tế, mà mặt khác thì những thứ tự do này đều không thực tiễn. Một khi chúng hãy còn ở trên bình diện tương đối, sự tự do mà chúng ta nói đến thì xa hơn thế nữa. Tự do thực sự là kết quả của sự giác ngộ. Khi một người nhận thức ra điều này, thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ấy cũng có thể tìm thấy mình luôn tự tại trong đời sống nội tâm của mình, trong sự theo đuổi đường hướng hành động của tự chính nó. Thiền là một tôn giáo của jiyu “tự do”, và jizai “tự tại”.

Giác ngộ chiếm trọng tâm trong giáo lý của tất cả các tông phái Phật Giáo, Tiểu Thừa và Đại Thừa, “tự lực” và “tha lực”, Thánh Đạo hay Tịnh Độ; giáo lý của Đức Phật tất cả đều phát xuất từ sự giác ngộ của ngài, từ khoảng 2.500 năm về trước miền bắc xứ Ân Độ. Vì vậy, mỗi một người Phật Tử đều dự kiến sẽ được giác ngộ, hoặc trong đời này, hoặc trong đời tương lai. Nếu không có giác ngộ, hoặc đã nhận ra, hoặc được nhận ra bằng cách nào đó, lúc nào đó, nơi nào đó, thì sẽ không có Phật Giáo. Thiền cũng không ngoại lệ. Thật ra, chính Thiền tạo ra hầu hết sự giác ngộ, hay satori “悟, ngộ”.

Để chứng ngộ, Thiền mở ra cho chúng ta hai đường lối tổng quát: ngôn ngữ và hành động.

Thứ nhất, ngôn ngữ của thiền (thiền ngữ) quả có mang tính chất Thiền, mặc dù nó hoàn toàn khác biệt từ triết lý trong ngôn ngữ hay biện luận rằng, nó có thể không chính xác gì cho lắm để áp dụng từ ngữ “ngôn ngữ” cho Thiền. Nhưng, chúng ta đều biết, con người không thể nào sống mà không có ngôn ngữ, vì chúng ta được tạo ra như vậy từ thời mà chúng ta có thể giữ vững được sự sống của chúng ta thành từng nhóm. Tình thương là cốt lõi của con người, tình thương cần một điều gì để đặt mình lên trên đó; con người phải sống với nhau để mang đến đời sống cho có tình thương yêu lẫn nhau. Tình thương muốn được tỏ bày thì cần phải có phương tiện để truyền đạt, đó là ngôn ngữ. Vì Thiền là một trong những kinh nghiệm mang nhiều ý nghĩa nhất của loài người, người ta cần phải dùng đến ngôn ngữ để diễn tả nó cho người khác, cũng như cho chính mình. Tuy nhiên, thiền ngữ có nét đặc thù của riêng nó, nó trái ngược với mọi luật lệ của khoa ngôn ngữ học. Trong Thiền, kinh nghiệm và diễn tả là một. Thiền ngữ diễn tả cái cụ thể nhất của kinh nghiệm.

Lấy thí dụ: Một thiền sư đưa cây gậy của mình trước đại chúng và nói: “Các người không gọi nó là cây gậy. Vậy gọi nó là gì?” Một người bước ra khỏi thính chúng, lấy cây gậy khỏi tay vị thầy, bẻ gãy làm đôi và ném xuống đất. Tất cả đây là kết luận sự phát biểu phi lý của vị thiền sư.

Một vị thiền sư khác, đưa cây gậy lên và nói: “Nếu ngươi có một cây gậy, ta đưa cho cây gậy của ta; còn nếu ngươi không có, ta sẽ lấy nó đi.” Không có luận lý gì cả trong câu nói này.

Còn có một thiền sư khác đã từng giảng về sự việc này: “Khi ngươi biết cây gậy là gì, thì ngươi biết tất cả, và hoàn tất việc học thiền.” Rồi không nói thêm lời nào nữa và rời khỏi thiền đường.

Đây là những gì mà tôi gọi là Thiền ngữ. Triết lý của Thiền lộ ra từ đó. Tuy nhiên, triết lý không quan tâm đến việc làm sáng tỏ tất cả những ngôn từ “bí ẩn” này, nhưng là để đạt đến chính cái tự tâm, như nó đã, rỉ tiết ra chúng một cách tự nhiên, quen thuộc, như là những đám mây bay lên từ đỉnh núi. Những gì mà chúng ta quan tâm ở đây, không phải là nội dung được rỉ tiết ra, đó là chữ nghĩa và ngôn ngữ, nhưng là “điều gì” lảng vảng quanh đây, mà chúng ta không thể nào xác định được vị trí của nó và nói “Đây này!” Để gọi nó, cái tâm còn xa với thực tế của kinh nghiệm; nó là cái mà không thể nêu tên “X”. Nó không trừu tượng; nó đủ cụ thể, và trực tiếp, như là mắt thấy mặt trời, nhưng nó không được xếp vào trong những phạm trù của ngôn ngữ. Ngay khi chúng ta cố gắng làm điều này, nó lại biến mất. Vì vậy, Phật Giáo gọi nó là cái “không thể đạt được”, “không thể nắm bắt được”.

Đó là lý do tại sao mà cây gậy là một cây gậy và đồng thời không phải là cây gậy, hay là cây gậy là cây gậy chỉ bởi vì nó không phải là cây gậy. Từ ngữ không bị tách rời khỏi sự vật hay sự kiện hay kinh nghiệm.

Các thiền sư đã từng nói, “Hãy xét những từ ngữ sống mà không nên xét đến những từ ngữ chết”. Những từ ngữ chết là những từ ngữ mà không còn tiếp tục một cách trực tiếp, cụ thể và mật thiết với những kinh nghiệm nữa. Chúng chỉ là khái niệm, bị cắt đứt khỏi gốc rễ sống của nó. Chúng đã ngưng đọng khi được khơi dậy từ bên trong con người, tự chính nó. Chúng không còn là những gì mà các thiền sư gọi là “một từ ngữ” khi mà đã thấu hiểu nó thì dẫn ngay đến sự thấu hiểu hàng trăm hàng ngàn từ ngữ khác hay câu nói của các thiền sư. Thiền ngữ làm việc với những “từ ngữ sống” này.

***

Sự rèn luyện thứ hai tiến đến sự thực chứng giác ngộ là hành động (hành thiền). Trong một ý nghĩa nào đó, ngôn ngữ cũng còn là hành động khi mà nó cụ thể và riêng tư. Nhưng trong hành động, những gì mà chúng ta thường gọi là “thân” (action), theo sự cảm nhận thực chứng của chúng ta, có dính líu vào. Khi Ngài Lâm Tế được hỏi về những gì là tinh túy của Phật Giáo, ngài đã rời khỏi cái ghế của mình, nắm lấy ngay ngực áo của người hỏi, tát vào mặt, và buông người ấy ra. Người ấy đứng sửng ở đó. Người đứng bên nhắc, “Sao ngươi không lạy?” Điều này làm người ấy tỉnh cơn mơ màng; và khi người ấy sắp lạy thầy, thì lại chứng ngộ.

Khi Ngài Mã Tổ đi dạo với người đệ tử thị giả là Ngài Bách Trượng, khi ấy hai thầy thấy một đàn ngỗng trời bay qua. Ngài Mã Tổ hỏi, “Chúng đang bay đi đâu?” Ngài Bách Trượng trả lời, “Chúng đã bay mất rồi!” Ngài Mã Tổ quay sang, nắm lấy mũi Ngài Bách Trượng, véo thật mạnh. Ngài Bách Trượng la lên, “Đau quá, sư phụ!” Ngài Mã Tổ hỏi vặn lại “Ai bảo chúng đã bay mất rồi?” Việc này làm cho Ngài Bách Trượng mới nhận ra rằng vị thầy của mình đã không nói gì đến nhận thức về đàn ngỗng mất dạng trong đám mây. Mục đích của vị thầy là gợi sự chú ý của Ngài Bách Trượng với đàn ngỗng sống đang di chuyển cùng với chính Bách Trượng, không phải ở bên ngoài mà là ở bên trong con người của ngài.

Con người này, theo Ngài Lâm Tế, là “con người thật, hoàn toàn trần truồng đi vào ra các giác quan của bạn.” Tôi tự hỏi không biết đây có phải là biểu tượng “người thứ ba” được nói đến bởi một vài nhà văn hiện đại như đi “bên cạnh bạn” hay “bên phía kia của bạn” hay “đằng sau bạn.”

Chúng ta có thể nói rằng đây là một bài học thực hành, dạy bằng hành động, học bằng việc làm. Có cái gì đó giống như nó trong phương pháp hành động để tiến tới giác ngộ. Nhưng một hành động trực tiếp trong Thiền lại có một ý nghĩa khác. Có một mục đích sâu sắc hơn, bao gồm trong sự thức tỉnh nơi tâm trí của người đệ tử một ý thức nào đó được hòa nhịp với sự rung động của Thực Thể. Câu chuyện sau đây có một chút khác; nó chỉ đơn giản trình bày tầm quan trọng của nó là để nắm bắt một thủ thuật bằng cách trải qua một trạng huống thực tế của riêng mình mà không có sự trợ giúp nào từ bên ngoài. Nó làm thí dụ cho phương pháp sư phạm của tinh thần “tự tại” trong Thiền. Điều này hoàn toàn phù hợp với giáo pháp của Đức Phật và các thầy tổ khác: “Không trông cậy vào người khác, hay vào sự đọc tụng kinh điển. Mà phải tự là cây đuốc của chính mình.”

Ngài Ngũ Tổ Pháp Diễn, thời nhà Tống, cho chúng ta câu chuyện sau đây, để nói lên tinh thần Thiền vượt lên trên kiến thức, luận lý, và ngôn từ:

“Nếu có người nào hỏi tôi Thiền giống cái gì, tôi sẽ nói rằng nó giống như là đi học nghề ăn trộm: Có người con của một người ăn trộm thấy cha mình trở nên già yếu mà nghĩ rằng, ‘Nếu cha mình không thể tiếp tục cái nghề của ông, thì ai sẽ là người kiếm cơm cho gia đình đây, không ai khác hơn là mình? Vậy thì ta phải học nghề mới được.’ Người con bèn gợi ý với người cha, và ông ta đồng ý.

“Một tối nọ, người cha dẫn người con đến một căn nhà lớn, phá chui qua rào, vào trong căn nhà, và, mở một trong những cái rương lớn, bảo người con bước vào trong ấy, người cha vội đóng nắp rương lại và khóa thật kỹ bằng ổ khóa. Người cha lúc bấy giờ chạy ra ngoài sân và đập mạnh vào cửa, đánh thức cả nhà dậy; xong lẳng lặng trốn qua cái lỗ của hàng rào chạy mất hút. Người trong nhà xôn xao vội đốt đèn, nhưng họ thấy kẻ ăn trộm đã trốn mất.

“Người con, hãy còn nằm trong cái rương bị khóa kỹ, nghĩ đến người cha tàn nhẫn. Hắn quá bực bội, chợt có một ý nghĩ thoáng hiện trong đầu. Hắn làm ra tiếng động giống như là tiếng chuột gặm ở trong cái rương. Gia chủ bảo người làm thắp cây đèn mà đến xem xét cái rương. Khi nắp rương vừa được mở, người trong rương nhảy ra, thổi tắt ngọn đèn, xô người làm sang một bên, rồi chạy mất. Người ta rượt theo hắn. Nhận thấy có một cái giếng bên vệ đường, hắn ta rinh một tản đá lớn ném xuống giếng nước đánh lạc hướng rồi đâm đầu chạy. Đám người rượt theo, tất cả đều bao quanh cái giếng để tìm kẻ trộm đã phóng mình xuống hố giếng tối.

“Trong lúc ấy, hắn trở về lại an toàn nhà cha của mình. Hắn trách cứ cha mình một cách nặng nề đưa đến sự trốn thoát trong gang tất. Người cha bảo, ‘Đừng có bực mình, con của cha. Hãy nói làm sao mà con trốn thoát ra được.’ Khi người con kể đầu đuôi câu chuyện, người cha nhận xét, ‘Đó thấy không, con đã học được nghề rồi!’”

Cái ý tưởng trong câu chuyện là để nói lên sự vô ích trong việc chỉ dẫn bằng lời nói và trình bày bằng khái niệm qua kinh nghiệm của sự giác ngộ vừa được nói đến. Ngộ phải là kết quả tự nhiên của sự sống bên trong của mỗi một người mà không phải qua lời nói từ bên ngoài.

***

Đối tượng của sự thực hành Thiền là việc làm sao để chúng ta nhận thấy, Thiền là kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta và nó không phải là một cái gì đó từ bên ngoài. Thiên Hoàng Đạo Ngộ nêu ra nét hùng hồn nhất trong câu chuyện đối đáp với một nhà sư mới tu; và câu chuyện khác, một kiếm khách vô danh Nhật Bản nói lên tính cách đe dọa hơn trong nghề nghiệp của mình. Câu chuyện của Thiên Hoàng Đạo Ngộ như sau:

Đạo Ngộ có một đệ tử tên là Sùng Tín. Khi được nhận làm tăng sinh, lẽ tự nhiên là nghĩ rằng mình sẽ được thầy chỉ dạy về Thiền như những học trò được dạy chữ ở trường học vậy. Nhưng Đạo Ngộ đã không dạy cho đệ tử mình những bài học đặc biệt về môn này, và điều này đã làm cho Sùng Tín cảm thấy bối rối và bất mãn. Vào một ngày, Sùng Tín thưa với thầy, “Từ khi con đến đây học cho tới nay, con đã không được thầy dạy điều gì cốt yếu về Thiền cả.” Đạo Ngộ trả lời, “Từ khi con đến đây, ta đã dạy cho con những bài học có liên quan đến Thiền rồi!

Bài học nào thế?

Khi con bưng trà cho ta vào buổi sáng, ta nhận lấy; khi con dọn bữa ăn, ta nhận lấy; khi con chào lạy ta, ta gật đầu đáp lại. Vậy con còn muốn được dạy điều gì nữa trong Thiền?

Sùng Tín cúi đầu trong giây lát, suy nghĩ về những điều khó hiểu đó. Vị thầy bảo, “Nếu con muốn thấy, thì thấy ngay. Còn bắt đầu suy nghĩ, thì nó biến mất!

Câu chuyện của vị kiếm khách lại như sau:

Khi một đệ tử tìm đến một vị thầy để học kiếm thuật, vị thầy, một người đã về hưu ẩn cư trong một cái chòi trên núi, chịu nhận dạy người học trò. Người đệ tử bị bắt phải giúp thầy nhen lửa, gánh nước từ con suối gần đó, chẽ củi, nấu cơm, quét nhà và dọn sân, nói một cách tổng quát là chăm nom việc nhà cửa cho thầy mình. Không có một bài học và kỹ thuật kiếm pháp nào được đem ra chỉ dạy cả. Sau một thời gian, người học trò trẻ bắt đầu bất mãn, vì anh ta đến không phải là để làm việc như người ở cho ông già, mà để học kiếm thuật. Vì vậy vào một ngày, người thanh niên tiến đến thầy và đòi ông ta chỉ dạy. Người thầy đồng ý.

Kết quả là từ đó, người thanh niên không thể nào làm bất cứ việc gì mà được yên ổn. Như khi anh ta nấu cơm vào buổi sáng, người thầy xuất hiện, từ đàng sau đập một gậy vào người anh. Khi anh ta đang quét nhà, thì cũng cảm thấy có một cú đánh không biết từ đâu. Anh ta không bao giờ yên ổn cả, vì luôn luôn ở trong tình trạng phải cảnh giác sống còn. Vài năm trôi qua, anh ta có thể tránh né được bất cứ cú đánh nào phát xuất từ đâu. Nhưng vị thầy vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn với kết quả mà anh có.

Vào một ngày, thấy thầy mình đang luộc rau trên bếp lửa. Người học trò nghĩ rằng, đây là cơ hội hiếm có để thử thầy mình. Cầm ngay một cây gậy lớn, dơ cao đánh vào đầu thầy đang lom khom quậy canh rau trong nồi. Nhưng cây gậy của người học trò bị kẹt ngay vào cái nắp vung của nồi canh rau. Việc này đã làm sáng mắt người học trò về bí quyết của kiếm thuật, mà cho đến ngày ấy anh ta hãy còn xa lạ với bí quyết này. Từ đó, lần đầu tiên người học trò mới cảm thấy sự ưu ái không thể nào sánh kịp của thầy mình.

Bí quyết tuyệt hảo của kiếm thuật bao gồm việc tạo ra khuôn thước tâm lý là làm cho mình luôn luôn sẵn sàng ứng phó kịp thời, nghĩa là tức-khắc, những gì đến từ bên ngoài. Trong khi rèn luyện kỹ thuật thì rất quan trọng, nó đến sau tất cả những cái giả tạo, có ý thức, có tính toán thêm vào đó. Trừ khi cái tâm, tự nó lợi dụng kỹ năng nào đó thích hợp với trạng thái cực kỳ linh động hoặc năng động. Trạng thái này lan khắp khi mà tâm được đánh thức bởi satori (ngộ).  Những gì mà vị thầy kiếm khách nhắm tới là làm cho người đệ tử của mình đạt đến sự thực chứng này. Nó không thể được truyền dạy bằng bất kỳ một phương pháp đặc biệt nào nhắm đến đích này, mà nó chỉ đơn thuần phát triển tự bên trong. Phương pháp của vị kiếm khách thật sự là không có phương pháp nào gợi ra ý nghĩa thích hợp. Nhưng mà có một phương pháp “tự nhiên” trong sự điên dại của ông, và ông đã thành công trong việc đánh thức tâm thức của người đệ tử trẻ của mình bằng những gì đánh động được cơ chế cần thiết cho sự tinh thông kiếm thuật.

Thiền sư Đạo Ngộ đã không phải lúc nào cũng đánh người đệ tử của mình bằng cây gậy. Đối tượng của vị kiếm khách thì rõ ràng và có giới hạn trong lãnh vực kiếm thuật, trong khi đó Đạo Ngộ thiền sư muốn dạy bằng cách đạt đến nguồn căn, mà từ đó mọi thứ làm cho kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta xảy ra sau đó. Vì vậy, khi Sùng Tín bắt đầu suy nghĩ về những nhận xét mà Đạo Ngộ thiền sư cho biết, Đạo Ngộ bảo Sùng Tín: “Không suy nghĩ bất cứ điều gì. Khi con muốn thấy, thì thấy ngay tức-khắc. Ngay khi con nấn ná [có nghĩa là, lúc mà có sự diễn đạt qua trung gian của trí óc], thì toàn bộ sự việc lại trở nên lệch lạc.”  Điều này có nghĩa rằng, trong Thiền, ý nghĩ khái niệm phải vứt đi, vì một khi mà chúng ta còn nấn ná ở cấp độ này, chúng ta chẳng bao giờ đạt đến nơi mà Thiền có sự sống của nó ở đó. Cái cánh cửa của sự thể nghiệm – giác ngộ - tự nó mở lấy khi mà người ta cuối cùng đối diện với sự bế tắc của trí thức.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn