Nền Tảng Của Giáo Dục Học Phật Giáo

15 Tháng Năm 201909:16(Xem: 23)
logo vesak 2019 viet nam
HỘI THẢO VESAK 2019 
CHỦ ĐỀ 
CÁCH TIẾP CẬN CỦA PHẬT GIÁO VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TOÀN CẦU 
NỀN TẢNG CỦA GIÁO DỤC HỌC PHẬT GIÁO
Thích Phước Nguyên



blank
Tóm tắt

Giáo dục theo quan niệm Phật giáo chính là một vấn đề trí thức, không bám chấp vào tự ngã hay nói đúng đắn hơn, một thái độ trí thứckhông chấp nhận hiện hữu tự ngã; kinh Phật đề xuất con đườnggiáo dục thoát khỏi sự nô lệ bản ngã. Trong kinh Brahmajāla (Phạm võng), có một phát biểu, khiến các nhà giáo dục hiện đại phải giật mình. Đức Phật dạy: “Người ngu tán thán giới đức của Như Lai, chỉ có người trí mới tán thán trí đứccủa Như Lai”. Vì vậyPhật giáo thường được mệnh danh là tôn giáo trí thứcThái độ trí thức này, là nguyên nhân đức Phật giới thiệu một nền tảng giáo dục đặc sắc và ưu việt, đó chính là sự hướng dẫn cá nhân có một thái độ do tự mình suy nghiệm, nhìn bằng đôi mắt của mình, đi bằng đôi chân của mình và quyết định hơn là nhắm mắt đi theo lời Phật.

Từ khoáGiáo dục học Phật giáođạo đứcBát Thánh đạo.

 

I. Giới hạn vấn đề

Giáo dục (education) là nền tảng căn bản của nhân loạitùy theo mỗi quốc giachủng tộctôn giáo và tập quán văn hóa mà phương pháp giáo dục được linh hoạt vận dụng khác nhau. Bất cứ một tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển, cần phải đặt giáo dục lên hàng đầu. Chưa bao giờ con người ngưng sáng tạohy vọng nâng cao được tầm mức giáo dục của nhân loại. Từ thuở sơ khai, hình như ‘định mệnh’ buộc loài người phải đối mặt với một thế giới cứ muốn chặn đứng năng lực sáng tạo cá nhân, khi nó nhận ra có quá nhiều bế tắc trên con đường giáo dục, để có thể bắt kịp dòng chảy xiết của tư duytiến hóa, nó phải không ngừng học hỏi. Nhu cầu hiểu biết không ngừng thôi thúc nó phải vận động. Thế mà vấn đề tiếp nhận chưa bao giờ được thỏa, và nỗi sợ bóng tối vô tri cũng chưa từng lắng dịu. Các phương pháp giáo dục có vẻ bất tận trong tầm nhìn, nhưng lại khan hiếm trong tầm với; đôi khi các phương pháp ấy trở nên mơ hồ khó mà nắm bắt được. Điều nó phải học hỏi để làm là vận dụng, triển khai và nâng cao các phương pháp giáo dục ấy một cách hợp lý.

Trước khi học tập cách làm này, nó phải biết học cái gì. Nó được thuyết phục để tin tưởng các phương pháp giáo dục do ai thuyết minh và truyền thừa những gì. Mặt khác, đời sống con người lại tưởng chừng như vô nghĩa. Sống và chết một cách ngẫu nhiênphi lý và không có mục đích. Nếu nhân loạikhông được hình thành nền giáo dục, có lẽ người ta không thể biết được diện mạo thế giới sẽ như thế nào, tốt hơn hay xấu hơn, khi họ nghĩ về những phương diện đa dạng của sự sống.

Trong một bản kinh, khi đề cập đến các giáo pháp cao quý, đức Phật nhấn mạnh đến tầm quan trọng của “tri thức quảng bác” (Skt. bahu-śruta; Pāli. bahussuta)[1]; từ cơ sở đó, giáo dục như thế nào để đạt một trình độ gọi là huệ vô nhiễm (prajñā amalā), nhận thức nhìn thẳng vào yếu tính của tồn tại. Nói rõ hơn, như định nghĩa bởi Abhidharmakośabhāṣyatatra prajñā dharmapravicayaḥ, “hoạt tính của huệ được gọi là giản trạch (pravicaya)”[2]. Đó là khả năng tư duy thẩm sát, hiểu theo Phạn ngữ, hay phân tích và lựa chọn, hiểu theo từ Hán dịch. Bằng khả năng đó mà đi sâu vào yếu tính của tồn tại. Thấy rõ bản chất và yếu tính của tồn tại, đó là mục đích cứu cánh của nhận thức, là nhu cầu hiểu biết toàn diện, từ đó xây dựng nền tảng của giáo dục học Phật giáo.

Tại Ấn Độ, kể từ thời Veda, khi con người bắt đầu có những khái niệm về khởi nguyên, tư duy về nguồn gốc thế giới không ngừng tác động vào đời sống thường nhật của họ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếpTin tưởng vào sự tồn tại của một đấng sáng tạo, hay một nguyên lý sáng thế, tìm hiểu mục đích và ý nghĩacủa sự sáng thế ấy, từ đó thiết lập những định chế xã hội và phương pháp giáo dục thích hợp, để bóc lột, để áp bức, để rao giảng theo một ý thức hệ, và cũng để tìm hướng thoát ly những đàn áp tư tưởng; đây không đơn giản chỉ là những tin tưởng viễn vông nữa. Nó quyết định đau khổ hay hạnh phúc của một cá nhân trong xã hộivai trò của giáo dục cũng thành hình ngay từ buổi sơ khaiGiáo dục học Phật giáo không cần đặt nền tảng trên một ý thức hệ nào, giáo dục học Phật giáo phá vỡ mọi ý thức hệ. Nhưng, trên diễn đàn giáo dục toàn cầu, cuộc đấu tranh ý thức hệ vẫn diễn tiến không ngừng.

Như thế, bất cứ một ý tưởng nào, tín ngưỡng tôn giáo hoặc tư duy triết họctrong lịch sử phát triển của nó hay trong một hệ thống văn minh vật chất của xã hội, luôn luôn hướng đến một hệ thống giáo dụctoàn diện, trong đó mọi cấp bậc đào luyện, mọi giá trị hiện hữu, đều được biện minh và quy định thành những nguyên lý, những chân lý thường nghiệm và siêu nghiệm, mà tất cả mọi sinh vật trong vũ trụ phải tuân theoý nghĩa sống hay chết, đau khổ hay phước lạc, đều được phác họa linh động và rành mạch.

Nhu cầu tìm hiểu nhằm đạt đến một tri thức nhất định, để hiểu biết các sự vật hiện tượng quanh ta, không chỉ đơn thuần là sự tò mò theo lý tính, mà chính những hiểu biết là công cụ bảo vệ sự sống, và cũng là một dạng lương thực cần thiết để tồn tại. Từ những cái được thấy, được nghe, rồi suy diễn ra những thứ bí mật hay ẩn tàng không thể thấy, không thể nghe, không thể cảm, không thể biết, để rồi sinh khởi hy vọng hay khiếp sợ, đó là bản chất và hiệu quả của hoạt động tư duy. Từ đó, các nhà giáodục đặt vấn đề khả năng tư duy và sáng tạo, đưa giáo dục đến tầm mức không bị đóng khuôn trong một lề thói hay tập quán thường nhật nào.

Vậy thìgiáo dục học Phật giáo nhận định trong ý nghĩa triết học, là sự phát triển của nhu cầu hiểu biết, từ những câu hỏi đơn giản như định danh và định nghĩa về những tồn tại và quan hệ cục bộ, tiến dần lên những mối quan hệ phức tạp, mà trong kinh dẫn chứng rất nhiều, ở đây không cần thiết phải lập lại dài dòng.

Tất cả những câu hỏi cho vấn đề nhận thức giáo dục đều có thể tìm thấy giải đáp trong kinh Phật. Phương pháp giáo dục mà Phật dạy, chúng ta, hoặc do hạn chế bởi thời đại và ngôn ngữ, bởi quốc giavà văn hóa; hoặc do bởi pháp tính thâm sâu, sự lãnh hội không thể dễ dàng, và lại càng khó khăn trong sự truyền thừa từ thầy đến đệ tửVì vậy, nền tảng của giáo dục học Phật giáo cần có một hệ thống giáo nghĩa nhất quán, trong đó các chi tiết giáo nghĩa quan hệ với nhau một cách mạch lạc. Như vậy, ý nghĩatriết học của giáo dục là ý nghĩa hệ thốngTriết học được hiểu ở đây là hệ thống giáo dục nhất quánbao gồm tất cả những gì mà tư duy đặt thành nghi vấn và yêu cầu giải đáp, gồm cả vấn đề nhân sinh và vũ trụ, từ đó hình thành một nền tảng của giáo dục học Phật giáo[3].

Như chúng ta thấy, khai triển để nâng cao giáo dục là nền tảng cho ổn định và thanh bình của xã hộivì vậy, sự phát triển của giáo dục bao hàm việc mở rộng hoằng pháp, hướng dẫn về nhân cách sống. Khía cạnh giáo dục đạo đức, từ đó cần phải được chú trọng. Sự hoàn thiện phẩm cách dĩ nhiên là mục đíchcao quý của giáo dục trong Phật giáo, nhưng nếu không có phương pháp và nỗ lực thì không tài nào có thể tiến hành. Điều này được ám chỉ đến trong câu nói cuối cùng của đức Phậtappamādena sampādetha (strive on with diligence): “Các vị hãy tự mình nỗ lực tinh chuyên”.  Theo quan điểm hiện đại, “appamāda” (non-infatuation): nỗ lực, lời dạy này có thể được xem là bối cảnh giáo dục của Phật giáo.

 

II. Giáo dục thế nào: Giáo lý về đạo đức

Vậy thì phải có giáo dục học Phật giáo (Buddhist pedagogy). Nó không những dạy con người sống theo chánh pháp, nghĩa là hợp pháp và lương thiện, mà còn dạy cách cư xử thế nào để có lợi ích cho bản thân và người khác, xa hơn là cho cả một cộng đồng dân tộc. Vì vậy, nó không được bỏ qua vấn đềtruyền trao và tiếp nhận.

Nói giáo dục học hiện đại đang cố gắng giải quyết các vấn đề truyền đạt cái gì, truyền đạt cách nào và cho ai thì thật nhàm chán. Người ta đã tập trung nhiều vào việc truyền đạt kiến thức, nói một cách rành mạchtri thức và khả năng. Đây chỉ là tên gọi tổng quát của nhiều thứ kiến thức được truyền dạy để phô diễn hay ứng phó mà thôi.

Các nhà giáo dục hiện đại thường có khuynh hướng truyền đạt trước hết và tối hậu cái gì cần thiết cho tri thức của mình và thỏa mãn bản lĩnh cá nhân, dầu cái ấy có là cốt yếu trong các nghiên cứu giáo dụchay không. Giáo dục học có thể nghiên cứu cách thức truyền đạt tối ưu các nguồn tri thức khan hiếm, và cách thức các diễn đàn giáo dục hoạt động để truyền đạt. Nhưng định nghĩa phương pháp giáo dục nào đi nữa cũng chỉ có thể thành công khi đời sống con người có đạo đức.

Về căn bảncon người cần thức ăn đạo đức cho đời sống tinh thần của mình[4]. Nhu cầu này khởi điểm từ khoảnh khắc mới có tri giác cho đến khi lâm chung. Vào thời kỳ đầu tiên của cuộc đờicon ngườichưa có khả năng phân tích và phán đoánvì vậy, nó phải sống nhờ vào giáo dục truyền đạt. Nói theo giáo dục học, nó là kẻ đi vay tri thức. Cái gì nó đã học hôm qua, hôm nay nó phải tư duy và ghi nhớ. Và cái gì hôm nay nó suy nghiệm, ngày mai sẽ nâng cao và truyền lại. Đó là quy luật hoạt động, và sự thực hiện ấy đặt trên cơ sở giáo lý về giới (śīla, phẩm cách), trong đó gồm các  học xứ (śikṣāpada), nói rõ là các điều khoản đạo đức cần phải học tập.

Bây giờ, vấn đề được đặt ra là: Con người cần phương pháp giáo dục gì để nó có thể tư duy và phát triển? Trước hết, với tư cách là một sinh vật, nó chỉ cần thực phẩm vật chất. Khi tiến hóa thành một động vật, nó cần thêm một loại thực phẩm nữa: Thực phẩm xúc chạm. Đến một trình độ tồn tại cao hơn, là một con người, nó cần đầy đủ bốn loại thực phẩmthực phẩm vật chấtthực phẩm xúc chạm, thực phẩm tinh thần, và thực phẩm nhận thức[5]. Như vậy giáo dục phải gồm đủ hai phương diện: hình thể và tâm thứcGiáo dục đầy đủ hai phương diện trên nền tảng đạo đức học Phật giáokhông sát hại sinh vật, không lấy vật không được cho, không tà dâm, không nói lời dối trá, không uống các loại rượu; từ đó đạo đức phổ quát xã hội hình thành, giáo dục mới có nền tảng vững chắc.

 

III. Giáo dục những ai: Các trình độ giáo dục

Trong mỗi giai đoạn phát triểnnhận thức phát sinh ngay khi có sự tương giao giữa giác quan và ngoại cảnh, đoạn kinh thường được các nhà Phật học viện dẫn: “Sau khi duyên đến mắt và các sắc, nhận thức mắt phát sinh[6],  đoạn kinh khác cũng nói: “Nếu mắt nội xứ không bị hư hoại; sắc ngoại giớikhông lọt vào tầm nhìn, không có sự chú ý thích đáng, thức tương ứng không phát sinh…[7]. Nhưng tùy theo trình độ nhận thức mạnh hay yếu mà phương pháp giáo dục cũng được đề xuất vận dụng khác nhau, trong các bản kinh thường phân thành ba hạng người: 1. Hạng người trí tuệ bị trùm kín. 2. Hạng người trí tuệ đầu gối. 3. Hạng người trí tuệ phổ quát[8]Nơi khácdựa trên thị hiếu và hành vi của con ngườiđức Phật lại phân thành bốn hạng: “1. Hạng người từ chỗ tối hướng đến chỗ tối; 2. Hạng người từ chỗ tối hướng đến chỗ sáng; 3. Hạng người từ chỗ sáng hướng đến chỗ tối; 4. Hạng người từ chỗ sáng hướng đến chỗ sáng”[9].

Tùy thuộc vào năng lực trí tuệ và tập quán, đức Phật chia thành nhiều trình độ giáo dục. Trong các kinh điển Phật giáo sơ kì, để chỉ chung cho phương pháp giáo dụcthường dùng thành ngữ “giáo giới thị đạo” (anuśāsanīprātihāryam): giáo dục là một phép lạ; khai thị cho người khác thấy được bản chất của tồn tại: “Đây là Khổ, đây là tập khởi của Khổ, đây là sự chấm dứt Khổ, đây là con đường thoát Khổ[10]. Nhưng không phải với bất cứ ai đức Phật cũng dạy thẳng vào những chân lý siêu nghiệm (chân đế), có khi Phật giảng bằng những chân lý thường nghiệm (tục đế), như tai họa của vị ngọt khát ái, hay bố thívà thành quả của bố thí v.v… Từ những giáo lý như vậy, đối với người nghe, trí tuệ được phát sinh qua ba giai đoạn: “tuệ do nghe, tuệ do tư duy và tuệ do tu tập”[11].

Do vậy, đối với người làm giáo dục cần nắm rõ trình độ nhận thức của thính chúng, hay cụ thể là học trò của mình, để áp dụng phù hợp những nguyên lý giáo dục, không áp bức tư tưởng người nghe, lấy người nghe làm trung tâm, chỉ rõ cho họ thấy giá trị thật sự của giáo dục không nằm ở chỗ giáo sư trình diễn những sở trường của mình và học trò dò dẫm góp nhặt những điều thầy rao giảng; bản chất của giáo dục là sáng tạo, đối với mỗi trình độ đệ tử khác nhau đều có thể linh động truyền đạt, đối với người nghe có thể tự do suy nghiệm theo đa dạng chiều hướng, không bị gò bó trong một mô thức có sẵn, từ đó vượt ngoài tất cả mọi ý niệm chủ quan để thấy được những điều mà ta chưa thấy[12].

Vấn đề giáo dục con người không phải là vấn đề giáo dục thuần túy đạo đức hay thiện ác như thường bị hiểu lầmĐức Phật tìm hiểu sự phản ứng con người trước những đối tượng ngoại cảnh như: Sắc, thanh, hương, vị, xúc v.v.... Dưới nhãn quan của Phật, giá trị hay mức độ giải thoát của con người tùy thuộc phản ứng trước ngoại cảnh. Và giáo dục học Phật giáo ở đây nhằm đào luyện con người ra khỏi sự chi phối hay đúng hơn sự nô lệ của sự vật. Phật giáo không bao giờ chủ trương dùng sắc đẹp, tiền bạc, danh lợi, dọa nạt để dụ dỗ người đi vào cửa PhậtGiáo dục trong Phật giáo bác bỏ mọi hình thứcnô lệ, dầu chỉ là nô lệ tâm linh hay thần quyền, ở mức thô thiển hay tinh vi.

 

IV. Đặc tính của giáo dục trong Phật giáo

blankGiáo dục học Phật giáo, không phải là một mô hình với các phép lạ siêu nhiên, cách thức thực hành huyền bí, mà nó đầy đủ các đặc tính thực tiễn, bất cứ ai đi theo con đường giáo dục này đều có thể tự thực hành và kiểm chứng. Kinh nói có sáu đặc tính: “1. Thiết thực hiện tại; 2. Dập tắt nóng bức; 3. Siêu việt thời gian; 4. Hướng dẫn đến cao thượng; 5. Trực tiếp quán sát; 6. Thể nghiệm nội tâm bởi bậc Trí”[13]. Đây gọi là những đặc tínhcủa giáo dục trong Phật giáodựa trênđặc tính này mà đưa đến những thành quả đạo đức và trí tuệ tương xứng.

Đặc tính ấy, được biểu hiện rõ qua ba hạng mục: Giới – Định – Tuệ, gọi là con đường thực nghiệm tuệ giác và giải thoát; Giới: rèn luyện phẩm cách, Định: rèn luyện sự chú tâm, Tuệ: rèn luyện sự phân tích và lựa chọn. Trong hoàn cảnh hiện nay, theo quan điểm Phật giáo như đã phát biểu trong bản kinh dẫn trên, ta có thể thừa nhận rằng ngay từ đầu, nếu con người thấy được loại hình giáo dục thích hợp là lựa chọn tốt nhất của mình, trước khi tưởng tượng ra được bất cứ một mô thức giáo dục nào khi đối mặt với giới hạn của môi trường và sự khan hiếm của các phương tiện ngoại tại để thỏa mãn nhu cầu hiểu biếtcủa mình.

Ở đây, không cần thiết phải nói tới loại khoa học giáo dục được nặn ra theo khung sườn đầu óc phương Tây. Mặc dù, những thành tựu giáo dục như được nhìn thấy hiện nay ở phương Tây từ thời chủ nghĩathực dân cho đến cuộc chiến chống khủng bố ngày nay, giáo dục phương Tây có vẻ chứng tỏ ưu thếcủa mình đối với hệ thống giáo dục của phương Đông, tiến bộ giáo dục của nó đã cải thiện rất nhiều về tiêu chuẩn nhận thứcTuy nhiên, điều này không có nghĩa dân chúng được hạnh phúc hơn. Thay vào đó, sự thành tựu đầy kinh ngạc về giáo dục đang đẩy nhân loại đến nhiều biến cố hàng loạt, khó mà dự đoán được hệ quả của nó. Sự tiếp nhận giáo dục Tây phương không nhất thiết phải diễn ra ồ ạt và đánh mất bản sắc giáo dục Đông phương như hiện nay.

Giáo dục học Phật giáo muốn đề ra phương pháp giáo dục con người, muốn cải thiện xã hội, phải có can đảm và sáng suốt tìm hiểu sự thậtsự thật tâm linhsự thật trí thức và đạo đứcsự thật xã hội; dầu sự thật ấy có xấu xa không tốt đẹpnhất định không che đậy, tuyên truyền nịnh bợ, không dối mình gạt người; như vậy mới là đặc tính chân chính của giáo dục học Phật giáo.

 

V. Phương pháp giáo dục

Như đã nói, giáo dục cần toàn diện về mọi mặt, giáo dục chỉ đúng ý nghĩa và vị trí của nó, khi giáo dụckhông bị phiến diện và thiên kiến ở bất kì hoàn cảnh nào. Có thể đề ra mấy điểm trọng yếu sau đây:

1. Giáo dục tương quan giữa con người và hoàn cảnh;

2. Giáo dục tương quan giữa con người và hành động;

3. Giáo dục tương quan giữa con người và trí thức;

4. Giáo dục tương quan giữa con người và đạo đức;

5. Giáo dục tương quan giữa con người và thời gian;

6. Giáo dục tương quan giữa con người và chân lý.

Những khái niệm này gợi lên những ý tưởng về truyền đạt và tiếp nhận như giáo dục học hiện đại có thể nhận thức trong một chừng mực nào đó. Tuy nhiênđức Phật đã đề bạt lấy Pháp tối thượng làm trí tuệtoàn hảo mà nhân loại được khuyến khích đạt đến. Pháp tối thượng nói đến ở đây gồm bảy chi phầnhay yếu tố của pháp thù diệu, mà kinh gọi là bảy diệu pháp. Chúng là: 1. Niềm tin; 2. Hổ thẹn; 3. Sỉ diện; 4. Nỗ lực; 5. Ghi nhớ; 6. Tập trung; 7. Tuệ giác[14]. Vì thế, các yếu tố của sự thành tựu giáo dục này phải được xem là các nhân tố truyền đạt tri thức có phẩm chất cao nhất. Tuy nhiên, hầu hết những tác giả viết về giáo dục có lẽ đều miễn cưỡng tán thành một định nghĩa khá lý tưởng như thế về giáo dục, bởi vì, theo giả định của họ, giáo dục được định nghĩa là “gồm hai hình thứcgiáo dục thân thể (sức khoẻ, sinh lýoai nghi như: đi, đứng, nằm, ngồi) và giáo dục tâm hồn (tư duy nhận thứctâm lýthị hiếu) mà mỗi cá nhân sở hữu”.

Như chúng ta thấy, thông thường người ta phân biệt giữa giáo dục thể chất phù hợp các nhu cầu thể trạng của con người, và giáo dục tâm lý dùng làm phương tiện nhằm đạt được các thỏa mãn lý tưởng. Vì giáo dục học hiện đại chỉ xử lý những chuyện trong thế giới này, thì hệ quả hợp lý kèm theo là họ chỉ quan tâm đến tiêu chuẩn phổ thông, ở tầm mức thường nghiệm.

Tóm lạiphương pháp giáo dục như vậy đã được Phật chỉ dạy. Sự chuyên cần hay nỗ lực được nhấn mạnhHăng háitinh chuyên, dũng mãnh… đôi khi được hiểu như là dùng để diễn tả tư thế của tâm ý; mặc dầu các diễn tiến tâm lý của chúng có các khác biệt nhỏ. Tuy nhiên, một cách tổng quát, chúng thường được mô tả là thiết yếu nhất trong mọi đường hướng giáo dục, đó là sự nỗ lực “appamāda”. Đức Phật đã dạy: “Không buông lung, con đường dẫn đến bất tử. Buông lung, con đường dẫn đến chỗ chết. Không buông lung, không bị chết. Người buông lung sống như thây ma[15].

Sự buông tuồng, lười nhác, không có ý hướng học hỏi, đây là những sức ì của tâm thức, là những gánh nặng trong giáo dục. Nó làm nội tâm con người khởi động trạng thái miễn cưỡng tiếp nhận tri thức. Các nhà giáo dục cũng có thể gọi nó là sự bị động đối lại với tiếp nhận. Theo các nhà giáo dục định nghĩa, lười nhác là một phạm trù đốt cháy tri thức có thể được đo lường bằng đơn vị thời gian.

Với sự hỗ trợ của tiến bộ giáo dụcgiới học sinh, sinh viên ngày nay có thể nâng cao hiệu suất học tập để thu thập được một lượng tri thức cao hơn mà không phải tiêu tốn quá nhiều thời gian. Đó là đặc điểmcủa nền giáo dục hiện đại được người ta phong cho cái tên là nền giáo dục quốc tế, được hình thành trên kiểu mẫu giáo dục phương Tây.

Việc quá tập trung vào truyền đạt và tiếp nhận tri thức này, nhưng lại thiếu các loại dinh dưỡng giáo dụckhác, trong kinh Phật gọi là các loại thức ăn tinh thần cần thiết cho giá trị tuệ giác tối hậu của nhân loại, đã tạo nên tình trạng mất cân bằng giữa phát triển giáo dục thể chất và tinh thần. Ngày nay, với đà tiến bộ ngoạn mục của giáo dục, và với sự thành tựu có vẻ thần kỳ của các phương tiện hỗ trợ giáo dục, người ta hiểu biết nhiều về cách thức vật chất hoạt động, nhưng sự hiểu biết của họ về cấu trúc tinh thần được cấu tạo thế nào, từ đó đưa ra mô thức giáo dục thích ứng, được ví như là loại thức ăn nào phải được dùng cho tâm lý, thì còn hữu hạn một cách đáng quan ngại. Chảy máu chất xám, thừa nhân lực nhưng thiếu khả năng, thiếu sự sáng tạo trong giáo dục hiện nay; tất cả triệu chứng này của căn bệnh ‘béo phì giáo dục’ thật ra là kết quả của tình trạng mất cân bằng trong sự phát triển đào tạo nhân tài.

Nhìn chung, phát triển giáo dục trên thế giới ngày nay đã nâng cao tầm nhận thức của nhân loại lên một mức đáng kểTuy nhiêntruyền đạt quá độ và tiếp nhận quá độdứt khoát kéo theo sự bất bình đẳngtrong việc cân bằng nhận thức trên cán cân giáo dục thế giới. Về mối bận tâm này, chúng ta nên tham khảo lời dạy của đức Phật liên quan đến vấn đề thời sự này, để có thể đưa ra một phướng hướng giải quyết.

 

VI. Kết luận

blankNhiều tác giả khi viết về giáo dục học Phật giáo, đã vội vã phê bình các phương pháp giáo dục khác, sự phê phán này không nên hời hợt, cần xét đến nền tảng trùng phùng giữa giáo dục Đông phươngvà Tây phương[16]Giáo dục của Phật giáo giúp người ta nhìn thẳng vào chính mình; do đó, cần xác định rõ bản thệ giáo dục hiện tại là gì, những khát vọng vĩnh cửu của con người về giáo dục, cũng cần hiểu rõ thực tính của giáo dục. Tuy nói rằng giáo dục học Phật giáo vượt ra ngoài biểu tượng và ngôn ngữ, nhưng nó luôn luôn hòa bình với sự sụp đổ của ngôn ngữthoát khỏi sự hủy diệt của những trào lưu tư tưởnggiá trị của giáo dục học Phật giáo được thấy ngay giữa lòng thế gian đau khổĐức Phật dạy, hãy chiến thắng tự thân, sự sống vẫn là điều linh thiêng. Nếu thấy được như vậy, thì không chỉ xây dựng được nền tảng của giáo dục, mà còn thấy được nền tảng của mọi khoa học và triết học của nhân loại.

Như vậy, những nguyên nhân gốc rễ cho phát triển giáo dụctốt hơn hoặc xấu hơn như ngày nay nhìn thấy, được quấn chặt với lòng tham, thù hận và ảo tưởng. Thanh tẩy ba độc tố này là mục đích tối hậucủa con đường giáo dục của Phật giáo. Trong bối cảnh giáo dục đạo đức toàn cầu, một hệ thống giáo dục nào đó vẫn còn tồn tại để cung ứng các nhu cầu cho nhân loại. Đối với những ai chọn đi theo con đường giáo dục hướng dẫn đến giải thoát tuyệt đối, đến thành tựu Niết-bàn, đức Phật dạy cách xả bỏ toàn diện các dục lạc và khát ái thế gian. Đối với những ai còn bị trói chặt trong năm thứ dục vọng, Ngài thuyết minh con đường giáo dục về cuộc sống thường nhật giản dị để họ có thể sống bình an và hạnh phúc ngay trong kiếp nhân sinh hiện tại, cũng như trong tương lai. Giáo lý cho con đường giáo dụcđược tóm tắt đơn giản trong hai tiêu điểm: bao dung và đạo đức. Để có thể tu tập được như vậy, người đó cần đạt đến một trình độ tư duy nhận thức nhất định.

Do đó, nền tảng của giáo dục học Phật giáo là một con đường có mục đích, nhắm đến việc đào luyện nhận thức và phẩm chất con người cho đời sống xã hội toàn cầu hóa hiện tại và mai sauLiên quan đếncon đường có mục đích này, nó phải gồm đủ tám hạng mục, thiết lập như vậy thì nó sẽ trở thành con đường giải phóng giáo dục hiện đại, đưa nền giáo dục lên đường hướng về “như thật đạo”, tức là “Bát Thánh đạo”: (1) khoa học như thật (chánh kiến), (2) triết học như thật (chánh tư duy), (3) ngôn ngữ học như thật (chánh ngữ), (4) chính trị học như thật (chánh nghiệp), (5) xã hội học như thật (chánh mạng), (6) đạo đức học và luật học như thật (chánh tinh tấn), (7) đạo họctâm lý học và phân tâm học như thật(chánh niệm), (8) tôn giáo học (chánh định). Vì vậy, các điều kiện để phát triển giáo dục phải là một sự cân bằng giữa sở học bao la và thực tiễn hành động.

Tuy nhiêngiáo dục học Phật giáo, chỉ có thể thực thi với điều kiện thiết yếu: mục đích trong đời sống này của một cá nhân phải được xác lập và tất cả mọi hành vi của nó phải được hướng dẫn bởi đạo đức; bất kể một mô thức giáo dục nào, xuất phát từ động cơ gì đi chăng nữa, có thành vấn đề hay không, cần phải xét về lý tưởng dẫn đạo và mục đích cuối cùng của nó. Trong phương diện này, nếu cần đi tìm một đường hướng cho giáo dục học Phật giáo, lời đức Phật dạy về Bát Thánh đạo hy vọng đóng góp nhiều nguyên tắc chỉ đạo cho các nghiên cứu giáo dục đạo đức toàn cầu.

 

Thư mục trích dẫn

Ernst Waldschmidt, Die Einleitung des Saṅgītisūtra, Zeitschrift der deutschen morgenländischen Gesellschaft, 1955, pp. 298–318.

Jeffrey Samuels, Journal of the American Academy of Religion, Toward an Action-Oriented Pedagogy: Buddhist Texts and Monastic Education in Contemporary Sri Lanka, 2004, Vol. 72, No. 4, pp. 955-971. DOI:10.1093/jaarel/lfh085.

Journal of Transformative EducationThe Buddha in the Classroom: Toward a Critical Spiritual Pedagogy, 2007, DOI: 10.1177/1541344607306362.

P. Pradhan (ed.), Abhidharmakośa-bhāṣya by Vasubandhu, 1967, tr. 15.

Pāli Text Society (PTS), Dīgha Nikāya 33Saṅgītisutta, London: 1989-1921, Vol. iii, pp. 253.

Pāli Text Society, Dīgha Nikāya 1Brahmajālasutta, London: 1989-1921, Vol. i, pp. 20-45.

Pāli Text Society, Khuddaka NikāyaDhammapada, p. 7.

Pāli Text Society, Majjhima Nikāya 28Mahāhatthipadopamasutta, Vol. i, p. 190.

Phước Nguyên (dịch & chú), A-tì-đạt-ma Tập dị môn túc luận, Nxb. Hồng Đức, tr. 210.

Sharon Luk, Sea of Fire A Buddhist Pedagogy of Dying and Black Encounters across Two Waves, DOI: 10.1080/10999949.2018.1521691.

Taishō Tripiṭaka (大正新脩大藏經), Vol. 29, no. 1558, 阿毘達磨俱舍論 1, p. 1b3.

Taishō Tripiṭaka, Vol. 01, no. 1, 長阿含經 2, p. 11a7.

Taishō Tripiṭaka, Vol. 01, no. 210, 法句經 1, p. 562b21-22.

Taishō Tripiṭaka, Vol. 01, no. 26, 中阿含經 7, p. 467a4-6.

Taishō Tripiṭaka, Vol. 02, no. 125, 增壹阿含經 27, p. 699b17.

Taishō Tripiṭaka, Vol. 02, no. 99, 雜阿含經 33, pp. 237c29-238a4.

Taishō Tripiṭaka, Vol. 27, no. 1545, 阿毘達磨大毘婆沙論 12, p. 58c19-21.

Taishō Tripiṭaka, Vol. 29, no. 1559, 阿毘達磨俱舍釋論 1, p. 162a2.

Taishō Tripiṭaka, Vol. 30, no. 1579, 瑜伽師地論 8, p. 313a14.

Tuệ Sỹ, Trường A-hàm, kinh Chúng tập, Nxb. Phương Đông, 2012.

Zane Ma Rhea, Buddhist pedagogy in teacher education: cultivating wisdom by skillful means, DOI: 10.1080/1359866X.2017.1399984.


*Nguồn: http://www.undv2019vietnam.com/Subtheme-03/vi/02.pdf


[1] DN 33, Saṅgīti, PTS. iii, tr. 253.

[2] Tib. de la śes rab ces bya ba ni. Cf. T29, no. 1558, p. 1b3: 慧謂擇法; No. 1559, p. 162a2: 智謂擇法.

[3] Zane Ma Rhea, Buddhist pedagogy in teacher education: cultivating wisdom by skillful means, DOI: 10.1080/1359866X.2017.1399984.

[4] Journal of Transformative EducationThe Buddha in the Classroom: Toward a Critical Spiritual Pedagogy, 2007, DOI: 10.1177/1541344607306362.

[5] Skt. catvāra āhārāḥ | katame catvāraḥ | kabaḍiṃkāra āhāraḥ audārikaḥ sūkṣmaś ca | sparśo dvitīyo manaḥsañcetanā tṛtīyā vijñānaṃ caturthaṃ (các đoạn Skt trong đây, trích từ Die Einleitung des Saṅgītisūtra, pp. 298–318); Chúng tập: Bốn loại thực phẩm gồm: 1. Đoạn thực; 2. Xúc thực; 3.  Ý tư thực; 4. Thức thực; Pāli. Cattāro āhārā—kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ.

[6] Pāli. định cú: cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ. Cf. dẫn bởi Candrakīrti, Prasannapadā, tr. 6.3: cakṣuḥ pratītya rūpāṇi cotpadyate cakṣurvijñānam.

[7] PTS, M. 28. Hatthipadopamaajjhattikañceva cakkhuṃ aparibhinnaṃ hoti, bāhirā ca rūpā na āpāthaṃ āgacchanti, no ca tajjo samannāhāro hoti, neva tāva tajjassa viññāṇabhāgassa pātubhāvo hoti. Hán, Trung A-hàm 7, kinh số 30: Tượng tích dụ kinh: 若內眼處不壞者。外色便為光明所照。而便有念。眼識得生。Cf. dẫn bởi Tì-bà-sa 12, tr. 58c19: 如象跡喻。契經中說。舍利子言。若內意處不壞外法處。現前及能生作意正起。爾時意識生.

[8] Skt. trayaḥ pudgalāḥ | avakubjaprajñaḥ pudgala utsaṅgaprajñaḥ pudgalaḥ pṛthuprajñaḥ pudgalaḥ.

[9] Skt. catvāraḥ pudgalāḥ | asti pudgalas tamas tamaḥparāyaṇaḥ | asti pudgalas tamo jyotiḥparāyaṇaḥ | asti pudgalo jyotis tamaḥparāyaṇaḥ | asti pudgalo jyotir jyotiḥparāyaṇaḥ; Pāli. Aparepi cattāro puggalā—tamo tamaparāyano, tamo jotiparāyano, joti tamaparāyano, joti jotiparāyano. 

[10] Cf. Tập dị môn túc luận, bản dịch Việt, Phước Nguyên dịch và chú, 2019, tr. 210.

[11] Skt. tisrāḥ prajñāḥ | śrutamayī prajñā cintāmayī prajñā bhāvanāmayī prajñā; Pāli. Aparāpi tisso paññā—cintāmayā paññā, sutamayā paññā, bhāvanāmayā paññā. Dịch Việt, ibid., tr. 211.

[12] Jeffrey Samuels, Journal of the American Academy of Religion, Toward an Action-Oriented Pedagogy: Buddhist Texts and Monastic Education in Contemporary Sri Lanka, 2004, Vol. 72, No. 4, pp. 955-971. DOI:10.1093/jaarel/lfh085

[13] Dẫn kinh Tạp A-hàm 33, kinh 931, tr. 237c29: Pāli, D.iii. 227, Saṅgītisvākkhātobhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opanayiko paccattaṃ veditabboviññūhī ti, “Pháp này của Thế Tôn, được tuyên nói một cách hoàn hảo, hiện thực (được thấy ngay hiện tại), không lệ thuộc thời gian, hãy đến để thấy (là pháp thực chứng), có khả năng hướng dẫn (đến Niết-bàn), được chứng biết từ nội tâm bởi bậc Trí”. Trường A-hàm 2, (kinh Du hành), tr. 23b7; Du-già 8, tr. 766c: hiện kiến, vô xí nhiên, ứng thờidẫn đạo, duy thử kiến, nội sở chứng.

[14] Sktsapta saddharmāḥ | śraddho bhavati hrīmān avatrāpy ārabdhavīrya upasthitasmṛtiḥ samāhitaḥ prajñāvān: 1. Tín; 2. Tàm; 3. Quý; 4. Tinh tấn; 5. Niệm; 6. Định; 7. Tuệ; Chúng tập: bảy Chính pháp: có tín, có tàm, có quí, đa văntinh tấntổng trì, đa trí. Tập dị môn (bản Việt), op.cit. tr. 574 Pāli: Satta saddhammā—idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, paññavā hoti.

[15] PTS, Dhp. 21: Appamādo amatapadam pamādo maccuno padam Appamattā na mīyanti ye pamattā yathā matā. Hán dịch, Tăng nhất 27, T02, p. 699b17-18; Pháp cú 1, T04, p. 562b21-22: 戒為甘露道, 放逸為死徑, 不貪則不死, 失道為自喪 “Giới, đường đến cam lồ, Phóng dật, dẫn lối chết. Không tham thì không chết, mất đường là tự mất”.

[16] Sharon Luk, Sea of Fire A Buddhist Pedagogy of Dying and Black Encounters across Two Waves, DOI: 10.1080/10999949.2018.1521691.


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Mười Một 2018(Xem: 218)
23 Tháng Ba 2018(Xem: 572)
18 Tháng Mười Một 2016(Xem: 1455)
24 Tháng Năm 2016(Xem: 1510)
Tôi muốn lý giải về 10 lời nguyện này. Trong kinh hoa nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử trên con đừờng tìm Đạo gặp gỡ và tu tập qua 53 vị thày (biểu tượng 53 bước tu tập để thành Phật bằng con đường Bồ tát Đạo) Trãi qua tất cả từ những vị thày từ nhửng kỹ nữ ăn chơi tới những Bồ tát lớn nhât Vị thày đầu tiên là Văn Thù Bồ Tát , tượng trưng cho Căn bản trí- là cái trí căn bản nằm tiển ẩn trong mọi chúng sanh nhưng không hiển lộ vì bị ngăn che bởi nhửng nghiệp lực..Vị thày thứ 53 sau cùng là Phổ Hiền Bồ Tát (tượng trưng cho hậu đắc trí là cái trí hiểu và ứng dụng được căn bản trí để có thể độ được chúng sanh-ý niệm từ Duy thức học). Sự thể hiện của hậu đắc trí có thể cảm nghiệm từ lục độ bước qua thập độ- Lục độ là bố thí, trì giới,nhẫn nhục,tinh tấn,thiền định và trí huệ. Bước qua thập độ thêm phương tiện , nguyện , lực,trí…Ta thấy lục đệ lục độ là trí mà thập đệ thập độ cũng là trí.Nhưng sự khác nhau là giữa căn bản trí và hậu đắc trí.
28 Tháng Tư 2016(Xem: 1773)
Tỳ-kheo có một nghĩa là bố ma, làm cho ma phải khiếp sợ. Ma chướng trong đường tu rất nhiều, bên trong và bên ngoài, thường gọi là nội ma ngoại chướng. Nhưng kỳ thực, có người tu không làm cho ma khiếp sợ mà ngược lại sợ ma, đi theo và làm quyến thuộc của ma. Nghĩa là bên trong không hàng phục được phiền não, bên ngoài không qua được chướng ngại. Thời Phật tại thế, Tỳ-kheo Đề-bà-đạt-đa là một điển hình.
23 Tháng Ba 2016(Xem: 1696)
Không phải ngẫu nhiên mà Đức Phật xem việc gần gũi vua quan là nạn, và mạnh mẽ cảnh tỉnh chúng Tăng: “Gần gũi bậc vua chúa vương gia có mười việc phi pháp”. Phi pháp ở đây là không phù hợp với Chánh pháp, không giúp ích cho việc thành tựu mục tiêu phạm hạnh và giải thoát của hàng xuất gia.
22 Tháng Ba 2016(Xem: 2015)
Người xuất gia mang trên mình pháp tướng đầu tròn, áo vuông, nguyện hủy hình để khác biệt với thế thường, sống đời thoát tục. Chưa nói đến tâm giải thoát hay tuệ giải thoát vốn ẩn tàng, sâu kín bên trong, hãy xem các hình thức bên ngoài như uy nghi và ứng xử trong đời sống hàng ngày thì phần nào cũng biết được công phu của hàng xuất sĩ.
20 Tháng Giêng 2016(Xem: 2623)
Thường thì khi chưa thành tựu về một điều gì chúng ta cảm thấy không vui. Nhưng khi đã toại nguyện, đã có những gì mong ước thì cũng chỉ vui được một thoáng rồi qua nhanh. Thực chất thì chưa được hay đã được đều có nỗi khổ riêng, vì cái tâm mong muốn của con người dường như không có điểm dừng.
13 Tháng Giêng 2016(Xem: 2149)
Ai cũng biết xuất gia tu hành đúng Chánh pháp thì gieo trồng được nhiều công đức, phước báo. Nhưng thực tiễn thì không phải ai cũng được xuất gia, nên Thế Tôn mới trợ duyên cho hàng Phật tử tại gia phát tâm xuất gia gieo duyên, có thời hạn, ít nhất là một ngày đêm tập sự xuất gia như tu Bát quan trai chẳng hạn.
06 Tháng Giêng 2016(Xem: 2575)
Biện tài hay biện tài vô ngại là một trong những phẩm chất cần thiết của vị sứ giả Như Lai. Biện tài có nghĩa là tài hùng biện, biện luận tài giỏi, khả năng nói các pháp nghĩa một cách khéo léo trôi chảy, thuyết pháp lưu loát, có sức thuyết phục người nghe.