Giáo lý khẩu truyền về tám đoạn kệ luyện tâm

08 Tháng Ba 201707:39(Xem: 685)

GIÁO LÝ KHẨU TRUYỀN VỀ TÁM ĐOẠN KỆ LUYỆN TÂM
Các đoạn kệ do Geshe Langri Tangpa soạn
Khenpo Sodargye Rinpoche bình giảng
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.

Đoạn kệ 1: Luôn luôn xem người khác là thân thương và quý báu

Bằng cách nghĩ về tất cả hữu tình chúng sinh
Quý báu hơn cả viên ngọc như ý
Để đạt được mục đích cao nhất
Nguyện con luôn xem họ là thân thương,
nỗ lựclợi lạc của họ.

khenpo-sodargye-portraitMỗi hành giả Pháp chân chính cần luôn luôn giữ ước nguyện chẳng hạn: ‘Tôi sẽ nghĩ về mọi hữu tình chúng sinh trong tam giới’ hay ‘về vô số hữu tình chúng sinh đang trôi lăn trong luân hồi, còn quý báu hơn cả viên ngọc như ý. Vì lý do này, tôi quyết tâm nỗ lựclợi lạc rốt ráoan lạc của mọi hữu tình chúng sinh, người mà tôi sẽ luôn xem là thân thương và quý báu. Tôi sẽ hân hạnh làm điều này’.

Viên ngọc như ý chỉ có thể trao tặng cho chúng ta những lợi lạc tạm thời, chẳng hạn kho tàng của cải và tiền bạc. Nó không có sức mạnh trao cho chúng ta lợi lạc lớn nhất, đó là Niết bàn rốt ráo. Vì điều này, chúng ta có thể hướng về vô lượng hữu tình chúng sinh, những vị mà tự thân tạo thành cánh đồng công đức thù thắng. Nếu chúng ta gieo hạt giống Bồ đề trên cánh đồng màu mỡ này, nó sẽ cho chúng ta vụ mùa của hạnh phúc thế gian tạm thời trong ngắn hạn, cũng như hạnh phúc rốt ráo, siêu việt, sau cùng.

Ví dụ, về bố thí ba la mật, một trong sáu ba la mật: nếu khônghữu tình chúng sinh, sẽ chẳng có đối tượng cho sự hành trì bố thí, nghĩa là chẳng có cách nào để chúng ta tiến hành hành động bố thí. Về trì giới ba la mật, bởi những cảm xúc phiền não khởi lên bởi hữu tình chúng sinh, sẽ chẳng có cách nào để trì giới được thực hiện để chống lại các cảm xúc phiền não nếu khôngcon người nào liên quan. Hơn thế nữa, trong trường hợp của nhẫn nhục ba la mật, như Bồ Tát Tịch Thiên từng nói: “Nhẫn nhục ba la mật không đến khi không có nguy hại”. Nếu khônghữu tình chúng sinh cảm thấy thù ghét, sẽ chẳng có nhẫn nhục siêu việt nào có thể được thực hành, cũng chẳng thể có công đức của nhẫn nhục siêu việt. Danh sách vẫn tiếp tục; các ba la mật của sự tinh tấn, thiền địnhtrí tuệ chỉ có thể được viên thành nhờ nương tựa hữu tình chúng sinh. Nếu khônghữu tình chúng sinh, chẳng thể hoàn thiện sáu ba la mật và mười nghìn hoạt động của một Bồ Tát, và vì thế đạt được Phật quả vô song sẽ chỉ là giấc mơ xa vời không thể chạm đến. Vì thế, chúng ta cần nỗ lực để hoàn thành cả mong ước tạm thời và rốt ráo của hữu tình chúng sinh thông qua các thực hành tâm linh, thứ bao gồm việc giữ tâm yêu thươngquan tâm với hữu tình chúng sinh, trong từng phút, từng giây của đời sống hàng ngày. Các hành giả với những phẩm tính như vậy có thể được xem là sở hữu tâm từ và bi thực sự; tâm như vậy là sự hiển bày đích thực của tinh thần Bồ Tát thừa, được biết đến là Bồ đề tâm.

Chư đạo sư Kadampa vĩ đại trong quá khứ, như Đức Geshe Langri Tangpa[1], có sự trì giới cao quý và tính cách thiện lành. Đây là những điều mà hành giả Đại thừa ngày nay cần nỗ lực học hỏi. Nếu không, mong ước trở thành một vị Bồ Tát hay một vị Phật, sẽ chỉ là từ ngữ trống rỗng. Thật đáng tiếc khi trong xã hội ngày nay, phần lớn mọi người, bất kể họ là Phật tử hay không, thiếu đi tính cách cao quý, chứ đừng nói đến Bồ đề tâm Đại thừa!

Thậm chí trong số những hành giả Phật giáo tận tụy, có những vị bày tỏ thái độ cực kỳ sai lầm với hữu tình chúng sinh. Một mặt, trong khi họ có thể thường đối xử với hữu tình chúng sinh bằng sự sân hận và thù ghét, hay thậm chí hành xử như thể hữu tình chúng sinhkẻ thù của họ, trong khi mặt khác, họ có thể nuôi dưỡng trong tâm sự kính trọngtôn kính chư Phật và Bồ Tát. Bồ Tát Tịch Thiên, trong bộ luận Nhập Bồ Tát Hạnh (Bodhicaryavatara) nghi ngờ hành vi này bằng cách hỏi rằng, “Kiểu thực hành nào mà chỉ tôn kính chư Phật, chứ không phải hữu tình chúng sinh?”. Các chỉ dẫn như – “Con chỉ nên kính trọng chư Phật và Bồ Tát, chứ không phải hữu tình chúng sinh” – không bao giờ có thể được tìm thấy trong bất cứ giáo lý Phật Đà nào. Bồ Tát Tịch Thiên chỉ trích hành vi sai lầm này bằng cách đưa ra câu hỏi tu từ như vậy.

Nếu người ta không thể xoay sở để làm một hành động lớn lao như “hoàn thành những mong ước của hữu tình chúng sinh và luôn xem họ là thân thương và quý báu” – dù họ có thể mong cầu Giáo Pháp khắp nơi, thực hành của họ chắc chắn sẽ chẳng được đáp lại bằng sự thành công. Có một câu chuyện để minh họa điều này trong Kinh điển:

Ngày xưa, có một người cha và con trai sở hữu viên ngọc như ý. Ngày nọ, khi họ đang đi du hành, người cha mệt và muốn nghỉ một chút. Trước khi nằm xuống, ông ấy nói với con trai rằng: “Hãy để ý đến viên ngọc như ý, và trong lúc bố nghỉ, chắc chắn đừng đưa nó cho ai”. Chẳng mấy chốc, người cha nhắm mắt và thiếp đi. Không lâu sau, một nhóm trộm cướp xuất hiện. Thấy người con cầm viên ngọc như ý, họ yêu cầu cậu bé đưa nó. Đứa bé đáp: “Tôi không thể trao nó bởi trước khi đi ngủ, bố tôi đã bảo không được trao nó cho ai khác”. Một trong những tên trộm lục tìm trong túi và lấy ra một gói kẹo và lấy một cái kẹo ngọt cho cậu bé. “Viên đá sáng mà cháu đang cầm là vô ích, nhưng đống kẹo này rất ngon và cháu có thể ăn ngay bây giờ. Nào, hãy trao đổi”. Đứa bé háo hức nhìn vào túi kẹo trong tay tên trộm và chỉ chần chừ một chút, đã trao viên ngọc như ý để đổi lấy túi kẹo. Khi người cha tỉnh lại và biết rằng con trai đã đổi tất cả những tài sản diệu kỳ của viên ngọc như ý để lấy túi kẹo bình thường, ông rất đau buồn và thất vọng.

Thực hành Pháp cũng giống như vậy: khi bạn từ bỏ nguyên tắc quan trọng của nó, dù cho bạn nhận được vài sự an lành nhỏ bé, bạn sẽ chẳng bao giờ nhận ra những lợi lạc lớn lao nhất. Ví dụ, nếu bạn đánh giá một hữu tình chúng sinhthấp kém và người khác là không hấp dẫn, nếu bạn cảm thấy sân hận hay thù ghét với họ, bạn đã từ bỏ Bồ đề tâm và thứ được gọi là sự hành trì của bạn sẽ mang lại rất ít, nếu không muốn nói là không có, công đức thực sự.

Khi chúng ta đọc tiểu sử của chư đạo sư tâm linh vĩ đại ở Ấn Độ, Tây Tạng hay Trung Hoa, trong quá khứ hay hiện tại, chúng ta thấy rằng tâm tríhành vi của chư vị, không ngoại lệ, rõ ràng hiển bày lòng đại bi luôn chăm sóc mọi hữu tình chúng sinh và mong muốn hoàn thành ước nguyện của họ. Bởi vậy, ở đây chúng ta có thể thấy rằng đoạn kệ này nói về chỉ dẫn cốt tủy rốt ráothù thắng nhất trong thực hành Đại thừa, về việc làm lợi lạc hữu tình chúng sinh.

Đoạn kệ 2: Xem bản thânthấp kém nhất trong tất cả

Bất cứ khi nào con tiếp xúc với người khác,
Nguyện cầu con xem bản thânthấp kém nhất trong tất cả,
Và từ sâu thẳm trái tim,
Nguyện con nghĩ về việc làm lợi lạc tha nhân,
kính trọng họ là tối thượng.

 

[Đoạn kệ nghĩa là:] Dù con ở đâu và tiếp xúc với ai, con sẽ xem bản thânthấp kém nhất trong tất cả và luôn khiêm nhường trước họ. Từ sâu thẳm trái tim, con sẽ liên tục suy nghĩ về việc làm lợi lạc tha nhân. Nhờ liên tục xem tha nhân là cao hơn và đối xử với họ bằng sự kính trọngtôn kính, con sẽ điều phục sự kiêu mạn và cao ngạo của bản thân và giữ họ cao hơn mình.

Trong Bình Giảng Về Năm Mươi Đoạn Kệ Về Sùng Mộ Đạo của Tổ Je Tsongkhapa, có một dòng trong đoạn kệ đỉnh lễ nói rằng, “Liên tục ở trên tất cả, nhưng cũng là đầy tớ của hữu tình chúng sinh”. Điều này nghĩa là một lời tán thán Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Mặc dù Ngài là thầy của tất cả chư Phật và là tối thắng trong tất cả hữu tình chúng sinh, Bồ Tát Văn Thù vẫn phụng sự tất cả chúng sinh như là đầy tớ. Và đây cũng là hành động của tất cả chư Phật, Bồ Tát và chư đạo sư tâm linh vĩ đại, người mà, mặc dù sở hữu công đứcthiện hạnh xuất thế gian, vẫn phụng sự thế giới như là kẻ tôi tớ. Giống như Đấng Toàn Tri Drime Ozer (Đức Longchenpa) nói trong bộ luận của Ngài với tựa đề An Trú Trong Chân Tính Về Đại Viên Mãn, “Sự giác ngộ của bậc thầy vượt xa chúng sinh bình phàm. Dù vậy, Ngài vẫn phụng sự thế gian và tiến hành các hoạt động từ áilợi lạc của hữu tình chúng sinh. Là hành giả Pháp, chúng ta cần noi theo tấm gương tuyệt vời này”.

Đoạn kệ này chủ yếu dạy rằng chúng ta cần quán sát bản tính tâm và chắc chắn rằng nó sẽ không làm khởi lên những cảm xúc của sự cao ngạo hay kiêu mạn với bất cứ hữu tình chúng sinh nào. Tây Tạng có một ngạn ngữ như sau: “Đỉnh núi kiêu ngạo không thể giữ được dòng suối công đức”. Vì thế, mọi người, dù họ vốn đã có đầy đủ công đức thù thắng, phải thoát khỏi sự ngạo mạn hay kiêu ngạo, và liên tục giữ trong tâm thức mong ước kính trọng và làm lợi tha nhân. Chỉ khi chúng ta nghĩ về việc làm lợi lạc tha nhân một cách nhất tâm, chúng ta mới có thể xem hữu tình chúng sinh là viên ngọc như ýkính trọng họ là vô cùng quý báu, theo cách mà chúng ta làm với chư Phật, Bồ Tát và chư đạo sư từ ái vô biên. Ví dụ, đại nguyện của Bồ Tát Địa Tạng là: “Nếu địa ngục chưa hết chúng sinh khổ đau, con nguyện chưa đạt Phật quả; và hơn thế, chỉ khi hữu tình chúng sinh cuối cùng được biến chuyển và cứu giúp, con mới thành tựu quả Bồ đề”. Nếu Bồ Tát Địa Tạng không thấy hữu tình chúng sinhtối thắng và cao quý hơn chính Ngài, Ngài sẽ không bao giờ có thể phát khởi đại nguyện như vậy. Nếu Ngài đặt bản thân cao hơn người khác và hành xử như một hoàng đế, làm sao Ngài có thể chứng ngộ sự thành tựu viên mãn của đại nguyện sâu sắc như vậy? Trong hành động hàng ngày của chúng ta và trong sự tương tác qua lại với người khác, một mặt, chúng ta cần phát khởi Bồ đề tâm vĩ đại với hữu tình chúng sinh và mặt khác, thấy bản thânthấp kém nhất trong tất cả, và thực sự suy nghĩ về việc làm lợi lạc tha nhân từ sâu thẳm trái tim. Đức Atisha, trong suốt cuộc đời, ban ba chỉ dẫn cốt tủy vĩ đại. Đầu tiên, quán sát tâm thức liên tục; thứ hai, điều phục tâm thức bằng sự chú tâmcảnh giác; thứ ba, bằng cách liên tục làm vậy, phát khởi Bồ đề tâm trong dòng tâm thức.

Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo của Thogme Rinpoche nói rằng:

“Nói ngắn gọn, bất cứ điều gì con đang làm,
Hãy tự hỏi bản thân, ‘Trạng thái của tâm thức là gì?’
Với sự tỉnh thứccảnh giác liên tục,
Thành tựu lợi ích tha nhân.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.

Từ điều này, chúng ta có thể thấy rằng, ý định của Đức Atisha và Thogme Rinpoche hoàn toàn giống nhau.

Đoạn kệ 3: Đẩy lùi phiền não ngay khi chúng khởi lên

Trong mọi hành động của con,
Nguyện con kiểm soát tâm thức,
Và ngay khi những phiền não tinh thầncảm xúc khởi lên
Bởi chúng đe dọa con và người khác
Nguyện con dũng mãnh đối mặt và đẩy lùi chúng.

 

[Đoạn kệ này nghĩa là:] Trong mỗi hành động, lời nóihành vi trong đời sống hàng ngày, con sẽ quán sát tâm mình và ngay khi những phiền não tinh thầncảm xúc khởi lên, bởi chúng gây hại cho chính con và người khác, con sẽ tìm rachống lại chúng một cách nhanh chóng và vững chắc đẩy lùi chúng không chậm trễ.

Trong cõi Ta Bà này, mỗi hữu tình chúng sinh đều có những phiền não về tinh thầncảm xúc, nhưng về nguyên nhân gốc rễ của những phiền não hay lỗi lầm này, cả Phật giáo Kinh thừa và Mật thừa đều có những giảng giải tương ứng. Trong giáo lý Kinh thừa, gốc rễ của khổ não hay phiền não cảm xúc, là những yếu tố tinh thần không tốt và vô minh. Trong giáo lý Mật thừa, các điều kiện phụ thuộc của tâm, làm khởi lên bám víu nhị nguyên, là những cơn gió nghiệp vi tế hay tinh dịch, máu và năng lượng khí vi tế, từ đó các thói quen tập khí của sự chuyển di “ba hình tướng” dựa trên. Kết quả là, truyền thống Kinh thừa và Mật thừa có những cách thức khác nhau trong việc đối phó với phiền não tinh thầncảm xúc: con đường Kinh thừa biến các nguyên nhân thành thực hành Phápcon đường Mật thừa đưa những kết quả thành con đường. Bây giờ, tôi sẽ không đi vào chi tiết của sự khác biệt này.

Đức Aitsha kế thừa những ý định của Bồ Tát Vô Trước và Đức Jetsun Langri Tangpa mang phong cách của Tổ Atisha. Tổ Atisha thường chỉ ra rằng: “Nếu một người mong cầu Giáo Pháp nhưng không áp dụng nó trong việc đối trị lại những phiền não cảm xúc hay khổ não, thực hành của anh ta sẽ vô ích”. Nếu mục đích nghiên cứu Giáo Phápthực hành tâm linh không hướng về việc tiêu trừ các phiền não tinh thầncảm xúc, thì phương pháp đối trị nào mà chúng ta sẽ dùng để tiêu trừ chúng?”. Ở đây, chỉ dẫn cốt tủy của Geshe Langri Tangpa là quán sátkiểm tra tâm trong mọi kiểu hoạt động, chẳng hạn ngồi, đứng, nằm hay đi, để xem liệu nó có trong trạng thái tích cực, tiêu cực hay trung lập. Nếu nó ở trong trạng thái tiêu cực, điều gì trong năm khổ não độc hại mà nó làm khởi lên? Nó có đến và đi nào hay không? Nó có hình dạng, màu sắc hay bản tính cố hữu không? Bằng cách lặp lại nhiều lần và cẩn thận quán sát dòng tâm thức theo cách như vậy, một người thông minh sẽ có thể đối mặt với các phiền não tinh thầncảm xúc bằng sự tỉnh thứccảnh giác. Khi các cảm xúc tiêu cực hay tư tưởng xấu khởi lên, anh ta sẽ từ bỏ chúng ngay lập tứcsám hối với sự ăn năn sâu sắc. Nhưng người thiếu trí tuệ làm ngược lại: anh ta không thể biết điều gì tốt hay điều gì xấu và thậm chí còn nhầm lẫn giữa cả hai; kết quả là, anh ta không thể tự mình sửa chữa các phiền não tinh thần.

Các phiền não tinh thầncảm xúc của chúng ta khởi lên trong tâm. Tuy nhiên, nếu tâm không khởi lên những phiền não này, dù cho chúng ta gặp phải nghịch cảnh, chẳng hạn bệnh tật hay sự tàn tật vật lý, chúng ta sẽ không thể bị nguy hiểm. Y khoa và sinh lý học hiện đại cũng tin rằng khổ đau và hạnh phúc được quyết định chủ yếu bởi trạng thái tinh thần. Khi người ta hạnh phúc, thậm chí nhận thức về đau đớn vật lý cũng suy giảm. Mặt khác, nếu người ta chìm trong khổ đau tinh thần, cảm giác đau đớn vật lý được trải nghiệm còn mạnh mẽ hơn.

Người ta tin rằng, trong Phật Pháp, khổ não là sự hiển bày của các thói quen tập khí trong tâm và có thể được tiêu trừ hoàn toàn nhờ những phương pháp nhất định. Ví dụ, trong tứ chúng học trò người Hoa, một số có tính cách bướng bỉnh, với những phiền não tinh thầncảm xúc mạnh mẽ, lúc họ mới đến Phật học viện. Sau một khoảng thời gian nhất định, nhờ lắng nghe Giáo Pháp, quán chiếuthiền định, họ trở nên chân thành hơn, có tính cách tốt hơntrí tuệ tăng trưởng dần dần. Cùng với đó, phiền não tinh thầncảm xúc của họ suy giảm. Tuy nhiên, khi họ ít chú ý hơn đến phương pháp đối trị, phiền não trước kia và các tập khí dần dần xuất hiện trở lại. Nếu họ có thể giữ sự hành trì với sự tinh tấn và bền bỉ, theo thời gian, tâm họ dần dần được điều phục và các cảm xúc phiền não mạnh mẽ được đưa vào con đường. Đây là điều gì đó được trải nghiệm bởi mỗi hành giả trong quá trình thực hành tâm linh.

Ở đây, “khi phiền não tinh thầncảm xúc khởi lên” nghĩa là, ngay khi một cảm xúc gây rối, chẳng hạn sân hận, khởi lên trong tâm, chúng ta phải dập tắtngay lập tức và đẩy lùi nó không chậm trễ. Như Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo có nhắc đến:

“Cảm xúc phiền não thói quen rất khó để ngăn cản nhờ hành động-chống lại.
Được trang bị các phương pháp đối trị, những vị bảo vệ của sự tỉnh thứccảnh giác,
Phá hủy các cảm xúc phiền não, chẳng hạn tham, ngay khi chúng khởi lên.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.

Nếu các cảm xúc phiền não không bị cắt đứt ngay khi chúng khởi lên, chúng sẽ làm hại chúng ta và người khác. Ví dụ, khi chúng ta gặp kẻ thù, ngay từ đầu, chúng ta cần quán chiếu rằng, người này, giống như mọi hữu tình chúng sinh, có Phật tính; vì thế, anh hay cô ta cần được đối xử ngang bằng. Nếu chúng ta không khởi lên ý nghĩ hay sự quán tưởng này, ngay từ đầu, trước khi chúng ta bắt đầu cãi cọ và đạt đến đỉnh cao của sự sân hận, chúng ta sẽ không thể chống lại với các cảm xúc phiền não nhờ sự tỉnh thứccảnh giác. Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche cũng nói rằng: “Nếu một cảm xúc làm phiền nhiễu không được chống lại ngay khi nó khởi lên, khi nó đã phát triển đến một mức độ, sẽ thật khó khăn để điều phục”. Mặc dù trong Đại Viên Mãn (Dzogchen) vô song có nhắc rằng: “Hãy mang những phiền não vào con đường, bản tính cố hữu của phiền nãoBồ đề và tất cả (hiện tượng) là thanh tịnh và bình đẳng”, là con người, nhận thức của chúng ta bị nhiễm ô. Điều duy nhất chúng ta có thể làm, có lẽ, là phát khởi một nguyện ước trong tim, và cầu nguyện rằng chúng ta sẽ đạt được trạng thái tâm linh trong đó, phiền não được đưa vào con đường và mọi hiện tượng trở nên thanh tịnhbình đẳng, càng nhanh càng tốt. Cùng lúc, trong hành động, chúng ta cần hành xử dựa trên quan điểm Kinh thừa của giai đoạn nguyên nhân, phá hủy năm độc, tức tham, sân, si, kiêu mạnđố kỵ. Nếu không, chỉ một khoảnh khắc sân hận cũng đủ để phá hủy công đứcchúng ta đã tích lũy và gây hại cho cả bản thân và người khác; một khoảnh khắc của sự tham luyến mạnh mẽ cũng đủ để phá hỏng sự trì giới của chúng ta, cũng như của người khác.

Vì thế, chúng ta cần xem xét tâm mình, lúc này sang lúc khác, và thường xuyên đẩy lùi những tư tưởng xấu ác của bản thân. Trước đây, bất cứ khi nào chư đạo sư Kadampa vĩ đại khởi lên ý niệm xấu, chư vị sẽ ngừng ăn và uống, và quở trách bản thân hay thậm chí đánh đập chính mình, để điều phục phiền não tinh thần. Chỉ dẫn cốt tủy này nghe có vẻ dễ dàng, nhưng nó cực kỳ sâu xa. Mỗi hành giả Đại thừa cần nương tựa vào chỉ dẫn cốt tủy này và liên tục thực hành điều này một cách tinh tấn sử dụng ba cánh cửa của thân, khẩu và ý.

Ở đây, điều cần đặc biệt nhấn mạnhchúng ta cần chú ý đến và kiểm tra lời nói của chính mình và từ bỏ việc nói lỗi lầm của người khác. Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo nói rằng:

“Bởi ảnh hưởng của các cảm xúc phiền não,
Nếu con chỉ ra lỗi lầm của một vị Bồ Tát khác,
Chính con sẽ bị suy giảm,
Vì thế đừng nhắc đến những lỗi lầm của các vị đã bước vào Đại thừa.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.

Nếu chúng ta nói về lỗi lầm của người khác, chúng ta đã phạm giới của Bồ Tát. Phần lớn mọi người ở đây đã thọ giới Bồ Tát và là hành giả đã phát khởi Bồ đề tâm Đại thừa, vì thế, có thể bất cứ điều gì mà họ làm và cách mà họ hành xử, đang phù hợp với phương tiện thiện xảo của chư Bồ Tát nhằm giúp đỡ hữu tình chúng sinh. Bởi vậy, chúng ta không nên nhận xét một cách cẩu thả, cũng không nên nhắc đến lỗi lầm của người khác. Đấng Chiến Thắng (Đức Phật) tuyên bố rõ ràng rằng: “Rất ít người có thể hiểu được thiên hướngcăn cơ của hữu tình chúng sinh, ngoài chư Phật”. Nếu chúng ta là Phật, chúng ta có thể chỉ ra lỗi lầm của người khác một cách trực tiếp, nhưng mọi người, xin hãy tự hỏi, “Tôi đã đạt Phật quả chưa?”.

Có lẽ, ai đó sẽ hỏi rằng: “Thưa Khenpo, Ngài yêu cầu chúng con không nhắc đến lỗi lầm của người khác, nhưng tại sao trong lớp, ngài nhắc đến lỗi của chúng con mỗi ngày?”. Câu trả lời là nó được phép trong những hoàn cảnh riêng biệt. Trong quá khứ, khi vị thầy gốc của Khenpo Menser và là đệ tử đời thứ hai của Patrul Rinpoche – Khenpo Achung đang thuyết Pháp, Ngài đánh học trò bằng một tập kinh hay một chiếc cốc bất cứ khi nào phát hiện ra lỗi của học trò và thường đánh học trò đến khi chảy máu. Hành vi này là được phép với các vị Kim Cương Sư. Tuy nhiên, một mặt, mỗi ngày mà tôi đề cập đến lỗi lầm của các bạn, tôi rất lo rằng các bạn sẽ đau khổcảm xúc phiền não khi nghe điều này, vì thế tôi nói càng ít càng tốt hoặc cố gắng nhắc nhở theo những cách tương đối ôn hòa. Tuy nhiên, mặt khác tôi sợ rằng các bạn sẽ không nhận ra lỗi lầm của bản thân và vì thế, tôi cảm thấy mình cần phải nói về chúng. Điều này khác với việc đơn giản chỉ ra lỗi lầm của người khác. Trong hơn một thập niên vừa qua, tôi chưa bao giờ gây xung đột giữa thầy và trò bởi đề cập đến lỗi lầm của người khác trong lớp. Trái lại, nhiều người có thể thấy rõ ràng hơn lỗi lầm của họ và chấm dứt những lỗi lầm này trong dòng tâm thức họ.

Tuy nhiên, khi người bình phàm nói về lỗi lầm của người khác, bạn đang không làm vậy vì lòng bi mẫn vị tha mà thay vào đó, chỉ bởi những cảm xúc phiền não của chính bạn. Cả hai sẽ phá hủy cội nguồn công đức của bạn và làm sâu sắc thêm thiên kiến của bạn với người khác. Nó giống như sương giá của những chướng ngại bao trùm mùa màng của sự hành trì và cũng sẽ gieo mối bất hòa ngăn cản sự hòa hợp trong Tăng đoàn. Hành vi như vậy chẳng đem lại lợi lạc nào, với cả bạn hay người khác. Bởi thế, khi luyện tâm, chúng ta cần thường xuyên xem xét mỗi phần của lời nói và hành động, kiểm tra điều chúng ta làm và cách chúng ta hành xử, và dần dần học cách điều phục tính cách ngang bướng, để dòng tâm thứ trở nên dễ uốn nắn hơn.

Đoạn kệ 4: Nguyện cầu con trưởng dưỡng kho tàng quý báu này

Khi con thấy những chúng sinh với thiên hướng xấu
Bị đè nén bởi ác hạnh và khổ đau nặng nề,
Nguyện cầu con, như thể tìm thấy một kho tàng ngọc báu,
Trưởng dưỡng họ như thứ gì đó cực kỳ quý giá –
Bởi rất hiếm tìm được họ!

[Đoạn kệ này nghĩa là:] Vô số chúng sinh, những vị có thiên hướng tiêu cực hay tính cách không dễ chịu và người liên tục bị chèn ép bởi ác hạnh, thói quen xấu và khổ đau, tích lũy ác nghiệp không ngừng, gây nguy hiểm cho cả bản thân và người khác. Khi con, là một hành giả, gặp được những chúng sinh như vậy, nguyện cầu con xem họ quý báu như một kho tàng hiếm có, để họ trở thành đối tượng đặc biệt của tình yêu thươngnhẫn nhục siêu việt.

Chỉ dẫn này cực kỳ quý giá. Nếu một hành giả Đại thừa chưa phát triển hoàn toàn công đức như vậy, đạt Phật quả trong một đời là điều không thể và thậm chí các thành tựu thế gian thông thường cũng nằm ngoài tầm với. Bởi vậy, chúng ta cần trân trọng chỉ dẫn cốt tủy tuyệt diệu này của thực hành Đại thừa.

Trong thời đại suy đồi hiện nay, phần lớn hữu tình chúng sinh dường như đều có thiên hướng rất tiêu cực: xấu xa, suy đồi, thô lỗvô lý; dòng tâm thức của họ tràn ngập sự hiểu sai lầm, ý niệm xấu và tà kiến. Bất chấp điều này, chúng ta phải quyết định cách thức đúng đắn để đối xử với họ. Hiển nhiên, sẽ là không đúng nếu chúng ta đáp lại thiên hướng suy đồi của những hữu tình chúng sinh này với sự khinh thường và thù ghét và rời xa họ. Để biết thêm chi tiết về các chỉ dẫn này, các bạn có thể tham khảo Nhập Bồ Tát Hạnh.

Ở cấp độ của bản tính cố hữu và chân lý rốt ráo, hữu tình chúng sinh và Phật giống nhau; nhưng về hình tướng hiển bày, hữu tình chúng sinh chìm trong cảm xúc phiền não và chẳng có tự do nào về thân hay tâm, điều giải thích tại sao họ lại có những thiên hướng xấu như vậy. Nói cách khác, bởi hữu tình chúng sinh đã tích lũy nhiều ác nghiệp trong vô lượng kiếp của các đời quá khứ và bây giờ bị nghiệp hay ác hạnh này đè nặng, họ không thể có tự do, và vì thế, đã có những thiên hướng thái cựctồi tệ.

Tuy nhiên, chúng ta cần chắc chắn rằng phần lớn hữu tình chúng sinh, đặc biệt những vị tin tưởng Đức Phật hay những hành giả Phật Pháp, muốn chinh phục phiền não tinh thần của họ, nhưng, bị ảnh hưởng bởi sức mạnh nghiệp, họ không thể hành xử theo mong ước đẹp đẽ này. Lấy ví dụ, người thường xuyên sân hận mạnh mẽ sẽ cảm thấy một cách sâu sắc nỗi khổ đau gây ra bởi sân hận này. Khi sân hận an dịu, họ cảm thấy ghê tởm và giằng xé trong tâm, bị cắn rứt bởi sự ăn năn mạnh mẽ. Họ có thể nghĩ rằng, “Lần sau, tôi sẽ không như vậy nữa”. Thế nhưng, lần sau khi họ gặp phải tình thế chọc tức họ, lịch sử lại lặp lại, lần này đến lần khác, họ cứ bị giày vò bởi những phiền não như vậy. Mặc dù nghiệp chướng sâu dày được tích lũy từ vô thủy, nếu chúng ta không thể cắt đứt những phiền não này tận gốc trong đời này nhờ sự bền bỉ nhiệt thành và hành trì, đời sau chúng ta sẽ thống thiết, đau khổ hơn và chúng ta sẽ có ít tự do hơn. Cuối cùng, chúng ta sẽ rơi vào ba cõi thấp hơn và chịu sự đau khổ bất tận, không ngừng và không thể hiểu được.

Đa số chúng sinh hiện nay, bởi thiếu tự do trong thân và tâm, thường làm những việc xấu với chúng sinh khác. Những hành động này có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu và thường xuyên, không có lý do nào. Chúng ta, những hành giả, nếu phiền não tinh thần chưa được tiêu trừ, sẽ vẫn là những người có thể bị ảnh hưởng bởi các điều kiện bên ngoài. Chúng ta chắc chắn sẽ phải đối mặt với nguy hại từ những chúng sinh xấu và trải qua nỗi đau đớnlo âu. Làm sao chúng ta có thể phản ứng lại với tình thế như vậy? Chúng ta cần sử dụng các chỉ dẫn then chốt được trao ở đây. Đoạn kệ này có chút giống với đoạn kệ đầu tiên, nhưng đoạn này cung cấp cho chúng ta những minh chứng rõ hơn về chỉ dẫn cốt tủy của thực hành sâu sắc hơn.

“Như thể tìm thấy một kho tàng ngọc báu” nghĩa là: Mặc dù có mọi kiểu hữu tình chúng sinh, những vị có thể có tham, sân, si, kiêu mạn hay hoài nghi mạnh mẽ, chúng ta không thể để sự thù ghét hay xa lánh với họ khởi lên trong chúng ta. Thực sự, chúng ta không thể không phản ứng lại với chúng. Điều này được giải thích trong đoạn kệ đầu tiên của Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo. Nó cũng nhắc đến rằng:

“Với chư Bồ Tát mong muốn của cải của thiện hạnh,
Những vị làm hại giống như kho tàng quý báu.
Vì thế, với tất cả, hãy vun bồi hạnh nhẫn nhục không thù địch.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.

Bất cứ khi nào hữu tình chúng sinh làm hại chúng ta, chúng ta không nên khởi lên sự thù ghét hay sân hận, mà trái lại, chúng ta cần xem họ là kho tàng bảo châu vĩ đại. Chỉ dẫn này nói thì dễ hơn làm. Thật khó để quán chiếu điều này, chứ đừng nói đến việc thực hiện nó. Tuy nhiên, đầu tiên chúng ta cần hiểu điều nên làm và điều nên tránh, và dần dần, cách đưa nó vào thực hành. Vạn sự khởi đầu nan. Các thói quen trở thành bản tính thứ hai nhờ trở nên quen thuộc với chúng, từng chút từng chút. Chẳng mấy chốc, chúng ta bắt đầu hành xử theo cách này một cách tự nhiên. Lấy ví dụ, khi đầu tiên chúng ta cố gắng học sử dụng máy tính, chúng ta có thể bị rối loạn bởi những quy trình vận hành phức tạp, nhưng khi thông thạo, dùng máy tính là cách rất tiện lợi để làm việc. Khi chúng ta bắt đầu thực hành chỉ dẫn tâm linh này, chúng ta có thể cảm thấy thật khó để quen thuộc. Nhưng nếu cứ cố gắng, với sự gia trì của bậc thầy kết hợp với sự hành trì miên mật, chúng ta cuối cùng sẽ thấy bản thân có thể áp dụng nó một cách tự tại trong việc liên hệ với các kiểu người khác nhau.

Như Bồ Tát Tịch Thiên từng nói: “Thậm chí nếu con không thể phát triển lòng bi dành cho tất cả những người như vậy, người mà bởi những cảm xúc phiền não, bắt đầu cố giết hại con hay tương tự, con cần ít nhất từ bỏ việc sân hận”. Và một lần, Đức Dromtonpa từng hỏi Tổ Atisha rằng: “Nếu người ta đánh đập con, nguyền rủa con hay cố giết con, con nên làm gì?”. Đức Atisha đáp lại theo cách thức khá gần với ý nghĩa mà Thogme Rinpoche đáp lại câu hỏi này,

“Dù ai đó cố gắng chặt đầu con,
Khi con chẳng làm điều gì sai dù nhỏ bé nhất,
lòng bi mẫn, hãy nhận lấy mọi ác hạnh của anh ta về mình.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.

Có một vị Lama nổi tiếng gọi là Garcho Rinpoche ở tỉnh Thanh Hải, người bị ngược đãi trong thời Cách mạng Văn hóa. Mỗi lần Ngài bị buộc phải nghe những lời buộc tội chống lại Ngài, Ngài sẽ giải thích, một cách bình tĩnh, “Hôm nay, tôi đang thực hành nhẫn nhục ba la mậtlợi lạc của mọi hữu tình chúng sinh”. Như thế, Ngài hiển bày “sự xuất sắc trong động cơ”. Lúc bị ngược đãi, khi người ta đánh đập Ngài, sỉ nhục hay nói xấu Ngài, Ngài an trú trong trạng thái tính không, thoát khỏi sự quan niệm hóa và Ngài thực hành nhẫn nhục ba la mật. Đây được gọi là “sự xuất sắc trong hành động”. Và khi sự hành hạ tạm thời kết thúc, Ngài hồi hướng, trong âm thầm, “Nhờ công đức thực hành nhẫn nhục, nguyện cầu tất cả những người đánh đập và nguyền rủa con và mọi hữu tình chúng sinh đều đạt Phật quả”. Đây lại là “sự xuất sắc trong hồi hướng”. Khi thời kỳ Cách mạng Văn hóa kết thúc, và môi trường chính trị trở nên tự do hơn với các tín ngưỡng tôn giáo, nhiều người đã tham gia vào việc ngược đãi vị Lama đã đến gặp Garcho Rinpoche để sám hốiăn năn. Tuy nhiên, Ngài luôn đáp lại rất nhân hậu rằng, “Con chẳng có gì phải sám hối. Không có con, thầy sẽ không thể thực hành nhẫn nhục ba la mật, và đó là một sự thoải mái tối thượng. Thầy không ghét các con chút nào. Trái lại, mỗi người các con đã tích lũy công đức. Vì thế, xin hãy quên việc sám hối đi!”. Đây là hành động độc đáo và thiện lành của một vị Bồ Tát Đại thừa!

Thực sự, người cố gắng làm hại chúng ta giống như viên ngọc như ý bởi họ là những nhân tố hỗ trợ không thể thiếu được để đạt Phật quả. Đức Phật nói rằng chỉ những vị có nhẫn nhục ba la mật mới có thể trở thành chư Bồ Tát thực sự. Dù đó là trong Nhập Bồ Tát Hạnh, Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo hay Tám Đoạn Kệ Luyện Tâm, một tiêu chuẩn giống nhau được đặt ra với hành giả Đại thừa. Vì thế, khi đối mặt với kẻ thù, chúng ta cần đền đáp lòng từ ái với sự biết ơn, giống như chúng ta làm với bậc thầy quý báutừ ái. Với chúng ta, những hành giả Đại thừa, những người thực hành nhẫn nhục ba la mật, kẻ thù là kho tàng không vơi cạn, giúp chúng ta hoàn thiện công đức của nhẫn nhục ba la mật. Vì thế, chúng ta thực sự cần chăm sóc họ liên tục, như một kho tàng quý báu hiếm khi được tìm thấy.

Đoạn kệ 5: Nhận về mình tổn thất và thất bại

Khi người khác, vì đố kỵ,
Đối xử tệ bạc với con hay những người liên quan đến con
Bằng sự lạm dụng hay nói xấu,
Nguyện con nhận về mình thất bại,
Và trao cho họ chiến thắng.

[Đoạn kệ này nghĩa là:] Bất cứ khi nào người khác, vì đố kỵ hay các cảm xúc phiền não khác, đối xử tệ bạc với con bằng sự lạm dụng hay vu khống, hay thậm chí họ đối xử tệ với bậc thầy của con, họ hàng hay bạn bè của con, nguyện cầu con nhận về mình khổ đau, tổn thất và thất bại và trao cho họ hạnh phúc, những lợi lạc và chiến thắng.

Để đạt được hai câu cuối cùng của đoạn kệ này, Geshe Chekawa đã đi theo Lama Sharawa trong sáu năm trước khi nhận được sự trao truyền. Ngài thực hành những chỉ dẫn này suốt đờicuối cùng, hoàn toàn loại bỏ sự bám víu vào “tôi” và “của tôi”. Mỗi người các bạn đang có mặt ở đây hôm nay, đặc biệt là những đệ tử cư sĩ vừa đến Học viện, đã thọ nhận toàn bộ trao truyền về Tám Đoạn Kệ Luyện Tâm, ngay khi bước vào Học viện và tôi hy vọng rằng các bạn sẽ thực sự trưởng dưỡng nó!

Đoạn kệ này có vẻ khá dễ hiểu về mặt nghĩa đen; tuy nhiên, ý nghĩa thực sự của nó rất sâu xa, bao laẩn mật. Nếu hành giả có thể tiếp tục thực hành nó một cách chí thànhtinh tấn, họ chắc chắn sẽ tiêu trừ mọi bám víu vào ngã và đạt được địa vị tâm linh cực kỳ cao trên con đường.

Đoạn kệ này chỉ ra rằng, người khác, vì những động cơ không thanh tịnh như đố kỵ, tham, sân, si hay cẩu thả, có thể chửi rủanói xấu chúng ta hay những người liên quan đến chúng ta, theo những cách thức bất công. Ở đây, “những người liên quan đến con” bao gồm Kim Cương Thượng Sư, các huynh đệ kim cương, cha mẹ, họ hàng và bạn bè. Thực sự, có hai kiểu tấn công cá nhân. Một là “sự tấn công cá nhân có căn cứ” và điều kia là “sự tấn công cá nhân không căn cứ hay bất công”. Ví dụ, nếu tôi đã giữ gìn các giới nguyện thanh tịnhtrong sạch, nhưng người khác bảo rằng tôi không; hoặc tôi không lấy trộm thứ gì, nhưng ai đó buộc tội tôi ăn trộm; hay tôi không phải là ngoại đạo, nhưng ai đó cứ nói vậy … tất cả những điều này thuộc về kiểu “sự tấn công cá nhân không căn cứ hay bất công”, nghĩa là sự tấn công dựa trên thứ gì đó không tuân theo sự thực. Và “sự tấn công cá nhân có căn cứ” nghĩa là điều vừa được nói ra đúng với sự thực, mặc dù bản chất của sự tấn công bằng lời, tự nó, là một ác hạnh.

Thông thường, với mọi người, “sự tấn công cá nhân có căn cứ” là điều gì đó có thể chịu đựng ở một mức độ, nhưng “sự tấn công cá nhân không căn cứ hay bất công” là sự giày vò quá mức chịu đựng. Trong thời Cách mạng Văn hóa, tôi vẫn là một đứa bé. Khi ấy, nhiều người được gán cái được gọi là “mũ” của “Bốn Kiểu Người”. (Thuật ngữ “đội mũ” giống như phương pháp gọi tên, điều liên kết một người với một biểu tượng tiêu cực). Một lần, tôi nghe nói rằng một người họ hàng của tôi đã đội ba mũ, và tôi rất muốn xem ông ấy đội kiểu mũ nào. Vì thế, tôi đến một trong những “buổi đấu tố” và mặc dù tôi thấy ông ấy đang đứng cùng hàng với nhiều người khác trên sân khấu, tôi chẳng thấy ông ấy đội chiếc mũ nào cả! … Đây là ví dụ về “sự tấn công không căn cứ hay bất công”, phải không nào?

Người bình thường thường xem người nói xấu họ là kẻ thù lớn nhất; tuy nhiên, với chúng ta, hành giả Đại thừa, nói xấuchửi rủa giống như ngọc báu như ý, một kho tàng quý giá ban tặng công đức và cơ hội nhanh chóng đạt Phật quả. Geshe Potowa thường nói: “Khi người khác nói xấu con, đó là lòng từ lớn nhất với con”. Chúng ta cần xem xét dòng tâm thức để xem liệu nó có thể khởi lên niềm tin như vậy không. Trên con đường tâm linh để đạt Phật quả, hành giả của Đại thừa thậm chí có thể trao tặng vợ và con, thân thể, cho mọi hữu tình chúng sinh; vì thế việc bị nói xấu và chửi mắng cũng không phải vấn đề lớn, phải không?

Trong quá khứ, có một người đàn ông tốt tính bị cầm tù trong sáu năm bởi sự đố kỵ của người khác, nhưng ông ấy nói rằng, “Đó là nghiệp của tôi”, và đối mặt với hoàn cảnh này bằng sự an bình. Một ví dụ khác mà chúng ta đều quen thuộc là Jetsun Milarepa. Trong những năm cuối đời, khi một vị Geshe cúng dường sữa chua tẩm độc vì đố kỵ, Đức Jetsun Milarepa, người xem mọi thứ là giấc mộng và hư huyễn, an nhiên dùng sữa chua. Đây là những phẩm tính quý báu mà một hành giả Đại thừa cần có, và một sự minh chứng sống động về cách thức những cảm xúc phiền não có thể được đem vào con đường.

Thật đáng tiếc khi phần lớn hành giả ngay nay có sự bám víu vào cái tôi quá mạnh mẽ và gần như đến mức mà họ sẽ không nhường dù chỉ một in-sơ cho người khác. Chẳng phải điều này hoàn toàn đối nghịch với thực hành Pháp chân chính? Hơn thế, mặc dù vài người đã dành nhiều năm tháng hành trì, họ vẫn nổi cơn thịnh nộ bất cứ khi nào gặp phải nghịch cảnh dù nhỏ bé. Nếu họ tiếp tục với kiểu hành vi này, nó sẽ chẳng mang lại nhiều lợi lạc, thậm chí họ thiền định trong hang động trên núi cả đời. Sakya Pandita, trong Kho Tàng Khai Thị Tốt Lành, nói rằng:

“Dù ở trong rừng, người ác độc hư hỏng,
Dù ở thành thị, người cao quý vẫn an bình;
Người ta thấy rằng động vật trong rừng hoang dãác độc,
nhưng những chú ngựa tốt nhất vẫn rất kỷ luật ở trong thị trấn”.

môn đồ của Đức Phật, chúng ta cần có tích cách tao nhã và chỉ khi chúng ta có nền tảng này cho sự hành trì, chúng ta mới có thể đạt được vài thành tựu.

Người Tạng có một thành ngữ nhắc đến sự thật rằng trong thời kỳ an bình, khi chúng ta có thể tận hưởng ánh mặt trời với cái bụng no, và mọi thứ vẫn suôn sẻ, tất cả dường như đều là hành giả tốt, chẳng có phiền não tinh thần, nhưng ngay khi khó khăn khởi lên, khi thức ăn và quần áo hiếm hoi hay khi có sấm sét và mưa lớn, thực hành đã kết thúc. Đây là bức tranhchúng ta thường thấy giữa các hành giả. Để vượt qua kiểu khó khăn này, chúng ta cần vun bồi và duy trì quan kiến thanh tịnh trong tâm, nhìn mọi hiện tượng là giấc mơ và ảo ảnh, và thấy mọi hữu tình chúng sinh đều có Phật tính. “Bây giờ, bởi ác nghiệp nặng nề, họ cố gắng làm hại con, nhưng thực sự, họ chẳng có lựa chọn nào khác, giống như bệnh nhân bị ốm dù cho họ chẳng muốn. Bởi vậy, con phải đối xử với họ bằng lòng đại bi”. Khi chúng ta mở rộng tâm thức theo cách này, chúng ta khá dễ dàng để khoan dung với những nguy hại từ người khác. Khi đạt được giai đoạn này, chúng ta cần quán chiếu rằng mọi hiện tượng hiển bày có thể biến thành con đường. Sự hiểu này sẽ làm tăng công đức của chúng ta trong hành trìchứng ngộ tâm linh, và như thế, chúng ta sẽ phát khởi tâm biết ơn với tất cả hữu tình chúng sinh.

Người ta thường nói rằng: “Nhận tổn thất nhỏ vì lợi ích lớn” và “Thất bại là mẹ thành công”. Từ quan điểm của người bình thường, chúng ta có thể học được nhiều điều từ thất bại và tổn thất, để chúng ta có thể có được lợi íchthành công lớn hơn trong tương lai. Từ quan điểm Phật Pháp, để đạt Phật quả, chúng ta cần cung cấp mọi sự an bìnhhạnh phúc cho người khác để đạt giác ngộ rốt ráo. Trong Đạo Ca Chiến Thắng: Diệu Âm Của Trống Thiêng, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nói rằng: “Với người mong muốn làm lợi lạc bản thân trong dài hạn, chỉ dẫn then chốt là làm lợi lạc tha nhân trong ngắn hạn”. Vì thế, không chút do dự, chúng ta cần nhận về mình mọi lỗi lầm, tổn thất và khổ đau của người khác và hồi hướng mọi công đức, chiến thắng, an bìnhhạnh phúc cho họ.

Chỉ dẫn cốt tủy này rất sâu xa. Tôi mong rằng tôi có thể nói nhiều hơn, nhưng tôi lấy làm tiếc phải nói với các bạn rằng, cá nhân tôi chưa thực hành nó thật tốt và chỉ hiểu đôi chút và có ít kinh nghiệm liên quan. Có lẽ, dựa vào chút ít kinh nghiệm này, tôi có thể chia sẻ đôi điều về chủ đề này với các bạn. Ví dụ, trong đời sống hàng ngày, nếu chúng ta thường nhận ra lỗi lầm của người khác, theo thời gian, chúng ta có thể kết thúc khi cảm thấy rằng không ai trên đời thực sự có lòng tốt. Mặt khác, nếu chúng ta nhấn mạnh vào việc nhìn người khác từ quan điểm tích cực, và liên tục quán chiếu về lòng tốt của họ với chúng ta, chúng ta sẽ dần dần trở nên quen với thói quen tốt đẹp này và lòng biết ơn với người khác sẽ sinh khởi trong chúng ta. Bởi chúng ta đã thọ nhận chỉ dẫn này, chúng ta cần kết hợp nó với sự hành trì. Ở Tu viện Dhomang thuộc hạt Luhou, có một Khenpo tên Lekshey. Trong mắt Ngài, mọi người đều tốt. Ngài không bao giờ nhìn vào lỗi lầm của người khác. Mặc dù Ngài nhận ra rằng các lỗi lầm tồn tại, Ngài nói: “Sẽ là không tốt nếu nói về lỗi của người khác. Có thể đây là những phương tiện thiện xảo được chư Phật và Bồ Tát sử dụng để giúp đỡ hữu tình chúng sinh và có những ý định cực kỳ bí mật”. Bởi thế, Ngài không bao giờ tranh cãi với người khác.

Như thành ngữ thường nói: “Con người luôn hướng lên cao, nước luôn chảy xuống dưới”. Nơi cao hơn, trên con đường tâm linh của thực hành Pháp, là hành động được nhắc đến trước đây của chư đạo sư tâm linh vĩ đại, người nhận về mình mọi khổ đau, tổn thất và thất bại của mọi hệ thống thế giancõi giới và trao cho người khác mọi an bìnhhạnh phúc, lợi lạc và chiến thắng. Chúng ta không nên giống như một vị Bồ Tát lúc bắt đầu, như một người thường lúc ở giữa và ma quỷ lúc cuối (bị chôn vùi trong sự ám ảnh với ngã liên tục phát triển và rơi vào các cõi khổ).

Từ ngữ trong chỉ dẫn cốt tủy này đơn giản nhưng ý nghĩa thì sâu xa. Tôi đã thêm vài bằng chứng và ví dụ từ bản văn để các bạn có thể hiểu tốt hơn. Thực sự, chỉ những vị Bồ Tát an trú trong địa đầu tiên hay địa thứ tám hoặc cao hơn mới có thể hoàn toàn hoàn thiện thực hành về Tám Đoạn Kệ Luyện Tâm. Tuy nhiên, chúng ta có thể tiến hành các thực hành tương tự. Với chỉ dẫn cốt tủy này cùng ân phước gia trì của bậc thầy, hãy nỗ lực với nó trong dòng tâm thức càng nhiều càng tốt và dần dần, bạn sẽ đạt đến một trạng thái như vậy trong thực hành tâm linh.

Tám Đoạn Kệ Luyện Tâm có thể đem lại lợi lạc lớn lao với sự hành trì của cả giáo lý Kinh thừa và Mật thừa. Tôi đã nói về bản văn này hôm nay theo lời thỉnh cầu của vài đệ tử và tôi rất biết ơn họ. Tôi tin tưởng rằng bản văn này sẽ hữu ích với đa số chúng ta ở đây, cả trong thực hành tương lai cũng như là một cách để giúp chúng ta hành xử đúng đắn. Nếu thực hành tâm linh của chúng ta không thích hợp với cách mà chúng ta hành xử như là con người, dù cho chúng ta có vẻ trông giống “những hành giả xuất sắc”, người nhập thất nhiều năm trên núi, chúng ta vẫn thấy mình không giỏi trong việc hòa hợp với người khác khi chúng ta rời khỏi nơi ẩn cư. Chúng ta thậm chí có thể thấy thực hành của mình vô dụng vào những thời điểm quan trọng, chẳng hạn khi chúng ta gặp những khó khăn, chúng ta không thể vượt qua chúng. Nếu vậy, một mặt, nó có thể phá hủy niềm tin hay sự tin tưởng của người khác với Phật Pháp, và mặt khác, chúng ta có thể nản lòng trước những thất bại không ngừng trong sự hành trì tâm linh và đánh mất sự hăng hái trên đường tu. Tôi không thể nói rằng không có Bồ Tát trong số những vị có mặt ở đây, nhưng bên ngoài, tất cả các bạn đều cho thấy bản thâncon người. Khi ở đây tại Học viện, phần lớn các bạn có niềm tin với Tam Bảoluật nhân quả, và vì thế, tốt hơn nhiều người bình thường. Khi trở về thành phố lớn, những người xung quanh bạn, đa số, sẽ là những người chẳng biết gì về nhân quả, về điều đúng và điều sai liên quan đến nghiệp, và không có niềm tin với Tam Bảo. Trong những nghịch cảnh như vậy, hãy cố gắng giữ trong tâm chỉ dẫn cốt tủy được trao truyền ở đây và bất cứ khi nào những phiền não tinh thần của bạn khởi lên, hãy lập tức điều phục chúng bằng các chỉ dẫn cốt tủy này, giống như chiến binh trên chiến trường, người nhanh chóng rút vũ khí khi gặp kẻ thù và đánh bại không chậm trễ.

Trong quá khứ, chư đạo sư Kadampa vô cùng trân trọng hai dòng cuối của đoạn kệ này. Nếu chúng ta sao chép chúng trên một mảnh giấy và dán chúng ở nơi nào đó dễ nhận ra trong nhà, để nhắc nhở bản thân không ngừng, tôi tin rằng điều đó sẽ hữu ích với sự hành trì. Khi tôi đang học tại Đại Học Sư Phạm, tôi thường thích dán những câu châm ngôncách ngôn mà tôi thích lên tường trong phòng ngủ và thường đọc chúng trước khi tôi ra ngoài đi ăn. Tôi thấy nó hữu ích trong việc cải thiện kỷ luật và tính cách của mình. Ví dụ, chúng tathể không nhận ra lỗi lầm trong tính cách cho tới khi đọc những thành ngữ tao nhã này, lặp đi lặp lại:

“Không hài lòng với lời tán dương,
Không bất mãn bởi sự chỉ trích,
duy trì phẩm tính tốt đẹp,
Đây là tính cách của những vị cao quý”.
(trích từ Kho Tàng Khai Thị Tốt Lành của Sakya Pandita)

Nếu chúng ta chỉ biết một vài chỉ dẫn và chỉ tiến hành vài pháp tu theo cách thức giả tạo, hay thậm chí, nếu chúng ta không chú ý đến các chỉ dẫn và chỉ tụng đọc các tâm chú, nghiên cứu về Bindu mỗi ngày và nhận điệp quy y sau đấy nghĩ bản thânPhật tử, thì hành vi như vậy không đem lại lợi lạc thực sự cho dòng tâm thức của chúng ta. Từ tiểu sử của chư đạo sư Kadampa, chúng ta có thể thấy tâm thức của chư vị thiện lành thế nào và hành vi của chư vị thanh tịnh ra sao. Chúng ta thì sao? Tôi mong rằng các bạn có thể đọc thêm tiểu sử của chư vị để niềm tin với thực hành Pháp sẽ tăng trưởng và các bạn sẽ tràn ngập sự tinh tấn và bền bỉ nhiệt thành, để các bạn nỗ lực tiến vào con đường luyện tâm.

Những hành giả tốt lành có thể làm lợi lạc cả xã hội. Vì thế, nếu sự giáo dục Phật giáo bước vào trái tim mỗi người, xã hội, đạo đức, hiện trạng của cả đất nước sẽ được tăng cường. Hiện tại, nhiều Phật tử không có những năng lực như vậy, nhưng trong tương lai, khi các bạn đã phát triển được những khả năng như vậy, tôi hy vọng các bạn sẽ có thể thay đổi những tiêu chuẩn về đạo đứchành vi con người của cả xã hội trở thành kiểu Giáo Pháp, để mọi người từ bỏ việc tích lũy ác nghiệp càng nhiều càng tốt, giúp họ tham gia vào thiện hạnh thường xuyên và khiến họ hiểu điều cần làm hay điều cần tránh, theo đúng luật nhân quả.

Đoạn kệ 6: Xem những ai hại con là chư đạo sư tâm linh

Khi ai đó mà con đã giúp đỡ,
Hoặc người mà con đặt nhiều hy vọng,
Làm hại con theo những cách cực kỳ bất công,
Nguyện con xem anh ta
vị thầy tâm linh chân chính của mình.

[Đoạn kệ này nghĩa là:] Khi ai đó mà con làm lợi lạc hay giúp đỡ, hoặc người mà con dành mối bận tâm và hy vọng lớn lao, đối xử tệ bạc với con theo những cách rất bất công, con sẽ thành tâm xem người đó là vị thầy tâm linh chân chính của mình, không chút hận thù.

Mỗi người chúng ta có thể rơi vào hoàn cảnh như sau: Khi ai đó, người đó mà chúng ta giúp đỡ bằng sức mạnh hay tiền bạc, hoặc trợ giúp việc học tập và thực hành Phật Pháp và người mà chúng ta dành những hy vọng lớn lao, không đáp lại chúng ta bằng sự biết ơn mà lại làm hại chúng ta theo những cách bất công. Mipham Rinpoche từng nói trong Tiểu Sử Vĩ Đại Của Phật Thích Ca Mâu Ni như sau: “Khi thực hành nhẫn nhục ba la mật trong giai đoạn nguyên nhân, Đức Phật đã cứu một người mà mạng sống đang gặp nguy hiểm, nhưng người đó không đáp lại bằng sự biết ơn, mà thay vào đó, làm hại Ngài một cách khủng khiếp”. Những trường hợp tương tự cũng xuất hiện trong xã hội hiện nay. Chúng ta cần có thái độ nào với những người như vậy? Chúng ta cần xem họ là những vị thầy tâm linh chân chính, không khác với Kim Cương Thượng Sư của chúng ta. Đó là thực hành Pháp chân chính!

Với đa số mọi người, đây là điều rất khó để làm được. Tuy thế, chúng ta vẫn cần quán chiếuthiền định về nhẫn nhục và đưa nó vào thực hành càng nhiều càng tốt; nếu chúng ta làm khởi lên sân hận trong những hoàn cảnh như thế, tất cả sự hành trì của chúng ta chẳng gì khác hơn sự giả mạo!

Xem những người làm hại chúng ta là không khác với vị thầy của bản thân cũng là điều gì đó rất khó làm. Nhiều năm trước, tôi đã mang về một bức tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi từ Ấn Độ, nhưng không may là, bức tượng bị lấy mất bởi một người biết tôi rất rõ. Từ thuở thơ ấu, tôi luôn có niềm tin lớn lao với Bồ Tát Văn Thù. Hơn thế, thủ tục hải quan để đưa bức tượng về cũng gây nhiều rắc rối. Vì thế, tôi quyết định sẽ thờ bức tượng linh thiêng này như là ruộng phước điền của mình, với sự quan tâm lớn lao, tôi dâng lên những cúng phẩm. Bức tượng ấy có ân phước gia trì thù thắng và tôi sẽ chẳng bán nó dù cho ai đó trao cho tôi hàng triệu nhân dân tệ – tôi khá bám víu với Bồ Tát Văn Thù! Sau đấy, khi những người quản lý nghe nói rằng nó đã bị lấy mất, họ hỏi xem liệu tôi có muốn điều tra tên trộm hay tôi có cần trợ giúp từ cảnh sát. Tôi biết ai đã lấy nó, vì thế, nếu tôi tìm kiếm sự giúp đỡ từ cảnh sát, sẽ không khó để lấy lại bức tượng. Tuy nhiên, khi ấy, tôi nghĩ: “Nếu chúng ta điều tra, mọi người sẽ biết ai là người lấy bức tượng. Tượng Phật là để làm lợi lạc chúng sinh, nhưng nếu điều này làm khởi lên những phiền não cho tên trộm, tôi sẽ trao bức tượng như là một món quà, dù cho tôi là người duy nhất biết về nó. Cuối cùng, đây giống như cơ hội tốt nhất để tôi thực hành nhẫn nhục”. Vì thế, tôi từ chối lời đề nghị từ ái của những vị quản lýmọi việc được dàn xếp ổn thỏa.

Khi người khác làm hại bạn mà chẳng có lý do gì, bạn không nên bị kích động, mà cần phát khởi lòng đại bi với họ; bạn hồi hướng tất cả công đức của bạn cho họ và xem họ là vị thầy tâm linh – đó là cách thức của một hành giả thực thụ. Nếu bạn nghiến răng với sự hận thù và nổi cơn thịnh nộ với người đã lấy đi tài sản của bạn, đó không phải là cách thức của một hành giả chân chính và thậm chí còn rời xa con đường của Bồ Tát.

Ngày nay, những cơ hội thật lớn lao khi chúng ta gặp được những hoàn cảnh không như ý, và chúng ta tóm lấy mỗi cơ hội này để thực hành nhẫn nhục. Như Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo nhắc đến:

“Thậm chí nếu một người mà con quan tâm,
Giống như con của chính mình, xem con là kẻ thù,
Chăm sóc anh ta, như mẹ chăm con
Đang bị bệnh tật.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.

Đây là thái độ căn bảnchúng ta cần có một cách trọn vẹn với thực hành Pháp.

Đoạn kệ 7: Bí mật nhận về mình mọi khổ đau của họ

Nói ngắn gọn, nguyện cầu con trao tặng
Lợi lạchạnh phúc cho tất cả bà mẹ,
Cả trực tiếp và gián tiếp,
Và nguyện con bí mật nhận về mình
Mọi tổn thương và khổ đau của bà mẹ chúng sinh.

 [Đoạn kệ này nghĩa là:] Dù trực tiếp hay gián tiếp, con sẽ dâng hạnh phúclợi lạc lên tất cả hữu tình chúng sinh, những vị đã từng là bà mẹ từ ái của con. Và một cách bí mật, con sẽ nhận về mình mọi tổn thương và khổ đau.

Đoạn kệ này dạy chúng ta một chỉ dẫn cốt tủy tối cao trên con đường của chư Bồ Tát. Tất cả hành giả Đại thừa, dù họ thực hành Kinh thừa hay Mật thừa, cần thiền địnhthực hành chỉ dẫn cốt tủy này. Không có nó, chúng ta không thể tự gọi mình là hành giả Đại thừa.

Trong Tiểu Sử Vĩ Đại Của Phật Thích Ca Mâu Ni: Bình Giảng Bạch Liên Hoa có kể rằng, Đức Thích Ca, trong hàng trăm nghìn kiếp, đã từ bỏ sự bám luyến với ngã và tiến hành hoạt động vị tha làm lợi lạc hữu tình chúng sinh bằng cách trao cho họ hạnh phúc và nhận về khổ đau. Chúng ta cũng cần đi theo bước chân của Ngài. Đây là điều mà chúng ta cần nghiêm túc suy ngẫm.

Như đã đề cập từ trước, Tám Đoạn Kệ Luyện Tâm của Đức Jetsun Langri Tangpa dễ hiểu về nghĩa đen, nhưng thực sự rất khó để kết hợp sự hiểu đó với hành trì thực sự.

Bởi chúng ta đã thọ nhận chỉ dẫn cốt tủy này, chúng ta cần sử dụng nó càng nhiều càng tốt trong đời sống hàng ngày. Với người cư sĩ, và đặc biệt với những vị mới đến, hôm qua tôi đã nói với các bạn rằng, hôm nay, tôi sẽ ban một chỉ dẫn cốt tủy siêu việt. Điều mà tôi đang nói đến là đoạn kệ thứ bảy và tám trong Tám Đoạn Kệ Luyện Tâm. Nếu các bạn không thể làm chủ việc thực hành chỉ dẫn cốt tủy này, dù tôi có giảng dạy về Đại Viên Mãn, dù bạn thiền định về Đại Viên Mãn bao lâu, tất cả những nỗ lực này đều vô ích. Chúng sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Vì thế, các bạn cần phát triển niềm tin với chỉ dẫn này và thực hành Hoán Chuyển Bản Thân Với Người Khác. Đây là chỉ dẫn cốt tủy cho tâm thức và hành động của một vị Bồ Tát.

Hành giả Đại thừa, trên nền tảng của sự nghiên cứu, thiền địnhthực hành Bồ đề tâm, cần cầu khẩn đến bậc thầy nhiều hơn. Các bạn cần cầu khẩn đến Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nhiều hơn, chứ đừng cầu nguyện đến tôi. Mặc dù, bởi những nguyên nhânđiều kiện nhất định, Kyabje Rinpoche đã soạn một lời cầu nguyện trường thọ cho tôi, tôi vẫn chỉ là con người và chẳng có sức mạnh gia trì. Sẽ là hợp lý nếu các bạn kính trọng tôi chỉ ở trong tim, bất kể liệu điều này được đánh giá từ quan điểm thế gian hay xuất thế gian hay không. Trong hơn một thập kỷ, gần như tất cả các chỉ dẫn, quán đỉnh và sự trao truyền Mật thừa của Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche mà các bạn thọ nhận đều được chuyển dịch và trao cho các bạn bởi tôi. Tuy nhiên, nếu các bạn cầu khẩn đến tôi, điều đó là quá mức với tôi. Trong các bạn có nhiều vị đạo sư vĩ đại và Bồ Tát. Xuyên suốt lịch sử, chẳng bao giờ có chuyện Bồ Tát lại cầu khẩn đến một người bình thường. Vì vậy, xin hãy cầu nguyện đến Kyabje Jigme Phuntsok nhiều hơn, và tự nhiên, ân phước gia trì của bậc thầy sẽ thâm nhập trái tim bạn. Theo cách này, bạn sẽ làm chủ mọi chỉ dẫn then chốt của cả Kinh thừa và Mật thừa và sẽ có thể đem mọi hình tướng hiển bày của các hiện tượng vào con đường và sự tỉnh giác tự nhiên của tâm sẽ hiển hiện. Đánh thức bản tính nguyên sơ của tâm mà không có sự gia trì của bậc thầy là không thể. Khi ban trao truyền và giáo lý về Văn Thù Đại Viên Mãn, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nói rằng: “Khi con cầu khẩn, bằng cách xem bậc thầy gốc là không khác với Bồ Tát Văn Thù, con dứt khoát sẽ thành tựu Đại Viên Mãn”.

Sự xuất sắc của chỉ dẫn được phát lộ trong đoạn kệ này nằm ở chỗ nó dạy chúng ta đổi hạnh phúclợi lạc của bản thân lấy khổ đau của người khác. Hoán Chuyển Bản Thân Với Người Khác được nói đến ở đây có chút khác biệt với đoạn kệ thứ năm. Chỉ dẫn về Hoán Chuyển Ngã – Tha trong đoạn kệ thứ năm là về thực hành Bồ đề tâm; còn Hoán Chuyển Ngã – Tha ở đây là về thực hành Tứ Vô Lượng Tâm. Tứ Vô Lượng Tâm là nền tảng của Bồ đề tâm. Nếu chúng ta xây dựng nền tảng này thật tốt, các chỉ dẫn then chốt khác sẽ dễ làm chủ hơn.

Như Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo tuyên bố:

“Khi bà mẹ của con, người yêu thương con từ vô thủy,
Đang chịu đau khổ, hạnh phúc của bản thâný nghĩa gì?
Vì thế, để giải phóng vô lượng chúng sinh,
Hãy phát triển ý định vị tha.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.

Tất cả chúng sinh đều đã từng là mẹ của bạn từ vô thủy và khi mà họ là mẹ bạn, họ yêu thương bạn như mẹ bạn trong đời này. Để chắc chắn rằng bạn có đủ ăn, họ thà chịu đói. Khi bạn bị bệnh, bà chẳng màng đến đồ ăn hay thức uốngnếu có thể, bà muốn hy sinh tính mạng để bạn được lành bệnh. Không chỉ những bà mẹ của con người hành xử như vậy, thậm chí những con thú hoang ác độc, như hổ hay sư tử, cũng tràn đầy tình yêu thương cho bầy con. Những miêu tả tỉ mỉ về điều này có thể tìm thấy trong Lời Vàng Của Thầy Tôi (Một Chỉ Dẫn Về Các Thực Hành Sơ Khởi Cho Pho Tâm Yếu Của Cõi Giới Bao La Từ Đại Viên Mãn) do Patrul Rinpoche soạn.

Bởi mọi hữu tình chúng sinh, người đã từng là cha hay mẹ của chúng ta, đang đau khổ trong luân hồi hay bị đè nén bởi những khổ đau không thể chịu đựng của cõi địa ngục, làm sao chúng ta, những đứa con, có thể tìm kiếm hạnh phúc cá nhân? Liệu chúng ta có giống những hành giả Tiểu thừa, người chỉ mong cầu giải thoát cho bản thân? Ý nghĩa của thực hành như vậy là gì? Vì thế, mỗi người chúng ta, với lòng đại bi, cần dâng tặng tất cả hạnh phúclợi lạc của bản thân, không chút ích kỷ, trực tiếp hay gián tiếp, lên tất cả bà mẹ từ ái của mình. Nếu chúng ta bây giờ chưa đủ phẩm tính để trao cho họ sự an bìnhhạnh phúc một cách trực tiếp, chúng ta cần thành tâm mong mỏi rằng, mọi an bìnhhạnh phúc của chúng ta đều được dâng cho tất cả bà mẹ chúng sinh từ vô thủy và muốn làm lợi lạc cho họ tốt nhất có thể – đó là sự cúng dường gián tiếp. Và sự cúng dường trực tiếp là gì? Tôi nghĩ – cứu mạng của chúng sinh sắp bị giết hại và giải phóng họ về với tự do là một sự cúng dường trực tiếp vì lợi lạc của chúng sinh. Có một sự giải thích về điều này trong bài báo Mưa Cam Lồ Công Đức Phóng Sinh. Bây giờ, Mưa Cam Lồ Công Đức Phóng Sinhảnh hưởng rất lớn ở nhiều vùng trên khắp đất nước và thậm chí trên toàn thế giới. Nhiều chúng sinh đang sống, sắp bị giết mổ, đã được cứu sốnggiải phóng khỏi lưỡi dao của đồ tể. Có nhiều điềm cát tường trong khoảng thời gian này. Tôi nghĩ rằng bài báo này có thể là một phần của phương tiện thiện xảo của chư Phật và Bồ Tát, hiển bày từ lòng bi mẫntrí tuệ vô biên, để cứu giúp hữu tình chúng sinh. Mặc dù chỉ là một cuốn sách nhỏ, nó đã cứu vô số mạng sống!

Bây giờ là thời điểm mà phóng sinh là điều rất cần để giúp đỡ hữu tình chúng sinh. Mỗi người chúng ta không chỉ nên phóng sinh, mà còn cần, càng nhiều càng tốt, thuyết phục người khác làm điều tương tự. Trong chư vị Tu sĩ, vài vị phóng sinh rất thường xuyên, mỗi lần cứu và giải phóng vài trăm triệu chúng sinh. Công đức của điều này là chẳng thể nghĩ bàn và kết quả tương lai của nó cũng vậy. Phóng sinh khác với các thiện hạnh khác. Khi tiến hành các thiện hạnh khác, nếu động cơ không thanh tịnh, hành động chỉ dẫn đến kết quả rất tầm thường. Tuy nhiên, phóng sinh thì khác. Thậm chí nếu người ta cứu sốnggiải phóng mạng sống với động cơ bất tịnh, hoặc thậm chí với tà kiến, kết quả tương ứng cũng không sai lầm. Có nhiều bằng chứng về kinh văn cho điều này và nếu bạn muốn biết rõ hơn, hãy tham khảo Mưa Cam Lồ Công Đức Phóng Sinh. Phóng sinh trực tiếp làm lợi lạc hữu tình chúng sinh. Phật học viện của chúng ta tổ chức phóng sinh hàng năm và tôi mong rằng, mỗi năm, chúng ta có thể phóng sinh nhiều hơn năm trước.

Từ vô thủy, khi những bà mẹ chúng sinh của chúng ta đang chịu cơn đau vô biên trong vòng luân hồi của tam giới, một cách bí mật, tôi mong rằng sẽ nhận lấy mọi khổ đau về mình và âm thầm trao cho họ tất cả sự an bìnhhạnh phúc. Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nói rằng, nếu chúng ta có thể trực tiếp trao an bìnhhạnh phúc cho người khác, đó là điều tốt nhất. Tuy nhiên, nếu không thể, chúng ta cần mong muốn trao mọi an bìnhhạnh phúc cho hữu tình chúng sinh và nhận về mình mọi tổn thương và khổ đau của họ. Nếu chúng ta thiền định theo cách này một cách tăng tiến, khi đạt đến một mức độ nhất định, chúng ta sẽ có thể trực tiếp nhận về khổ đau của hữu tình chúng sinh và trực tiếp trao cho họ hạnh phúcbình an.

Đoạn kệ 8: Mọi thứ giống như ảo ảnh

Nguyện cầu tất cả những thực hành này của con, không bị vấy bẩn
Bởi lỗi lầm của tám mối bận tâm thế tục;
Và nguyện con, nhận ra mọi thứ
ảo ảnh, thoát khỏi sự bám víu,
Được giải phóng khỏi sự trói buộc.

[Đoạn kệ này nghĩa là:] Nguyện cầu mọi thực hành và hành động của con, trong quá khứ, hiện tạivị lai, không bị vấy bẩn bởi các quan niệm về tám mối bận tâm thế tục, không bị nhiễm ô bởi của cải hay danh tiếng; và bằng cách nhận ra mọi hiện tượngảo ảnh, nguyện cầu con tiêu trừ mọi bám víu vào sự tồn tại thực sự trong dòng tâm thức. Nguyện cầu con được giải phóng khỏi sự trói buộc của bốn thái cựcquan niệm và đạt giải thoát rốt ráo.

Nếu tâm của chúng ta bị vấy bẩn bởi tám mối bận tâm thế tục, thậm chí chúng ta thực hành thiện hạnh, kết quả của những thiện hạnh này không xuất sắc. Trái lại, chỉ công đức không bị ô nhiễm bởi tám mối bận tâm thế tục mới là công đức được thấm nhuần trí tuệ Đại thừa. Người bình thường không có ý muốn tránh xa tám mối bận tâm thế tục và đó là lý do tại sao họ không thể đạt được trí tuệ rốt ráo đích thực hay giải thoát rốt ráo. Nhiều hành giả ở đây thực hành một cách thầm lặng, lắng nghe, quán chiếu, thiền định Giáo Phápphụng sự Tam Bảo một cách tinh tấn và chu đáo, chẳng màng danh tiếng hay của cải. Điều này cho thấy rằng họ biết được những nguy hại của tám mối bận tâm thế tục và đang học cách tránh xa chúng. Nhưng, vài người nảy sinh tình yêu thương với uy thế và sự tự thể hiện mình, và điều này cho thấy thực hành của họ chưa đủ, rằng họ cần học hỏi thêm về nguy hại của tám mối bận tâm thế tục, cần sắp xếp lại các mục tiêu của họ và nỗ lực nhiều hơn!

Rất lâu trong quá khứ, một vị thí chủ đang đến thăm vị Geshe Kadampa vĩ đại. Vì thế, trước khi vị thí chủ đến, vị Geshe lau dọn phòng thờ và trang hoàng các bức tượng Phật. Tuy nhiên, khi ông ấy bất ngờ phát hiện ra rằng các động cơ là bất tịnh, ông ấy lập tức ném một đống tro lên những vật phẩm cúng dường. Sau đấy, Đức Jetsun Padampa thở dài nói rằng công đức của đống tro này vô cùng lớn lao. Điều này là bởi ông ấy đã phá hủy sự bám víu vào tám mối bận tâm thế tục, và hơn thế nữa, ông ấy nhận ra rằng mọi hiện tượng giống như giấc mơ và ảo ảnh, không có sự tồn tại thực sự, không phụ thuộc hay khách quan nào.

Nếu chúng ta nhắc đến các chỉ dẫn liên quan trong Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo, chúng là các đoạn sau đây:

“Khi con gặp phải những đối tượng hấp dẫn,
Mặc dù chúng có vẻ đẹp đẽ,
Giống như cầu vồng mùa hè, đừng xem chúng là thật,
từ bỏ tham luyến.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.
“Mọi hình tướng của khổ đau giống như cái chết của đứa con trong mơ.
Xem các hình tướng hư huyễn là thật khiến con mệt mỏi.
Vì thế, khi gặp phải những hoàn cảnh bất như ý,
Xem chúng là hư huyễn.
Đó là thực hành của một vị Bồ Tát”.

Khi chúng ta khởi lên những cảm xúc phiền não, chẳng hạn tham hay sân, chúng ta cần trực tiếp quán xét bản tính của các cảm xúc này, để không bị dối lừa bởi những hiện tượng này và chúng ta sẽ thoát khỏi sự trói buộc và đạt giác ngộ.

Đoạn kệ này nhắc đến thực hành Pháp từ quan điểm cao nhất. Các chỉ dẫn trong An Trú Trong Chân Tính Về Đại Viên Mãn chính xác là những chỉ dẫn được ban ở đây. Nếu chúng ta nhận ra rằng mọi hiện tượng giống như giấc mơ và sự huyễn ảo, chúng ta sẽ khiến đời người trở nên ý nghĩa.

Nguyên tác: An Oral Teaching on Eight Verses for Training the Mind (http://www.khenposodargye.org/teachings/foundation/an-oral-teaching-on-eight-verses-for-training-the-mind/).

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.
Mọi sai sót là lỗi của người dịch, xin thành tâm sám hối.
Mọi công đức có được xin hồi hướng tất cả hữu tình chúng sinh, nguyện sớm đạt thành Phật quả.



[1] Geshe Langri Tangpa (1054-1123) tức Langthangpa Dorje Senge là vị đạo sư Kadampa lỗi lạc và là học trò của Tổ Potowa Rinchen Sal. Ngài nổi tiếng về việc biên soạn Tám Đoạn Kệ Luyện Tâm.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Mười 2015(Xem: 3071)
Karmapa có nghĩa là "bậc thực hành Phật hạnh” hay "hiện thân tất thảy Phật hạnh”. Các đời Karmapa đã tái sinh trong hình tướng Hóa thân tới nay 17 đời, và tất cả đều đóng một sứ mệnh quan trọng nhất trong việc trì giữ và hoằng dương giáo pháp của đức Phật nơi vùng xứ Tuyết.
20 Tháng Mười 2015(Xem: 2217)
Đức Dalai Lama từng nhiều lần dạy rằng, Phật giáo Kim cương thừa không phải là Lạt-ma giáo. Một trong những lý do chủ yếu Phật giáo Kim cương thừa phát triển ở miền đất Tuyết chính là người thực hành có tri kiến thanh tịnh đối với bậc Thầy. Kim cương thượng sư là Bậc Thầy trong Phật giáo Kim cương thừa
05 Tháng Mười 2015(Xem: 2201)
Một ngày nọ, khi Milarepa đang ở trong hang động một mình thì hai vị khách tìm đến hỏi han. - Ông ở một mình à? Ông không thấy cô đơn sao? - Tôi luôn luôn sống với một người nào đó, không bao giờ đơn độc. Ngài trả lời. - Nhưng ông sống với ai? Người trẻ tuổi hơn trong hai người hỏi ngài.
20 Tháng Chín 2015(Xem: 1179)
Phía trước, ở giữa biển mây phẩm vật cúng dường Đức Phổ Hiền, / Nơi an trú của chư vị lama, Yidam, Tam Bảo và Hộ Pháp / Cùng các đấng hiền thánh đã thành tựu chân lý; / Xin hoan hỷ nhận mây cúng dường các phẩm vật này, và ban cho con chân lý tối thượng.
13 Tháng Tám 2015(Xem: 1624)
Đây là một bài ca tụng mười bảy đại sư Nalanda được đặt danh đề “Mặt Trời Chiếu Sáng Ba Phương Diện Chánh Tín”.
08 Tháng Tám 2015(Xem: 3136)
Bởi ta đã thực hành trong cuộc đời, ta sẽ không sợ hãi khi tiến trình của sự hấp hối bắt đầu. Chúng ta sẽ bám rễ vào niềm tin và biết rõ thái độ nào là lợi lạc và thái độ nào không có lợi trong tiến trình này.