5. Cõng nghiệp rong chơi bên bờ vực thẳm

05 Tháng Ba 201814:23(Xem: 167)

NHỤY NGUYÊN

 VŨ ĐIỆU Ý NIỆM
TRONG CƠN ĐAU BẢN THỂ
Nhà xuất bản Ananda Viet Foundation 2018


Cõng nghiệp rong chơi

bên bờ vực thẳm

 

Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” (một là tất cả, tất cả là một). Chân lý này hơn 20 năm trước đã được nhà vật lý D. Gabo chứng minh qua Lý thuyết toàn đồ và nhờ vậy ông vinh dự nhận giải Nobel. Phật còn dạy: Một hạt vi trần chứa tam thiên đại thiên thế giới. Chúng ta thực tế hiểu chưa tới một phần tỉ chính mình. Ở mỗi người, thức alaya lưu mọi thông tin từ kiếp này và cả muôn kiếp trước, nên đời người rất phức tạp. Ý khởi từ sâu trong vọng tâm, truyền đến mạt na thức, trí não mới bắt đầu nhận lệnh và sai sử thân tạo tác; nghiệp ấy sẽ lại dội ngược vào tàng thức, lưu cho đến khi [nhờ tu tập mà] Phật tánh hiển lộ; cảnh mộng mới biến mất. Chiếu theo khoa học hiện đại, alaya (vọng tâm) ở mỗi người ví như đài thu phát sóng siêu cấp, hút hết thảy thông tin từ vũ trụ. Nhưng chỉ những thông tin mà ngũ căn của ta nhận bắt xử lý (ước khoảng chưa tới một phần tỉ) mới thực sự sâu đậm, dễ thành chủng tử khởi sinh nghiệp trong thời gian ngắn. Cũng có nhiều trần cảnh thoáng qua tai mắt rồi vùi lấp đâu đó trong tàng thức, thậm chí qua những kiếp khác, nhờ tác động mạnh bởi duyên bên ngoài đã khởi dậy sanh nghiệp dữ. Thử xét ở một hiện tượng: Đạo Văn. Đạo ở đây, xin khoanh vùng ở sự vô tình; (những trường hợp cố ý đương nhiên không nằm trong lộ trình nghiệp này). Có người lướt qua một bài thơ trên mạng trên giấy hay thoáng nghe ai đó đâu đó, rồi quên hẳn, quên tuyệt đối, đến mức có ai hỏi từng đọc những câu thơ này chưa, cũng không nhớ. Chưa hề. Bỗng một ngày nhân sự kiện tương đồng với bài thơ mình từng đọc dội đến, nhà thơ khởi ý làm một bài thơ. Bật ra tứ. Nhà thơ mang giấy bút bắt đầu nghiêm túc nghĩ được mấy dòng, lại nghĩ, lại viết. Từng câu từng chữ đều từ óc mình vắt ra. Lúc bài thơ khá trọn vẹn, nhà thơ đọc lại, thấy vẫn còn vài chữ chưa ưng ý, lại suy nghĩ, thay từ này từ kia, đổi đến mấy lần mới chuẩn. Nhưng. (Điều không ngờ, trí thì có thể quên, song kho alaya thông qua những dạng camera tự động (như mắt), nhoáng cái đã lưu đến từng âm tiết, từng tiếng động nhỏ, kể cả những thông tin mà tai, mắt, mũi không hề tiếp xúc). Nhà thơ không ngờ, duyên tương đồng khởi hiện cũng là lúc thông tin từ alaya thức giấc, được lôi ra mà trí não không hề hay biết. Tác giả sẽ rất ngạc nhiên lúc người ta đưa đến một bài thơ của người khác giống đến khó tả. Y như cùng một khuôn. Phản đối. Đây là bài thơ tôi làm trăm phần trăm. (Dĩ nhiên). Tôi chưa hề đọc bài thơ này. Chính bài thơ này mới đạo của tôi. Thế là sôi dư luận. Người ta tị hiềm, công kích, cay nghiệt lên án. Người ta nhầm lẫn giữa chống cái xấu ác với khuếch trương bản ngã, tự cho mình cái quyền phán xử trong lúc chưa thể nhìn rõ chân tướng sự việc. Luận về nghiệp, lại càng không. Dẫu người ta lôi chứng cứ rành rành. Oan! Mà không oan. Đến đây, nhà thơ sau bao thời gian không tin nổi chuyện đã xảy ra, mới lắng tâm suy xét. Trí não bỗng kích hoạt, hình như, hình như có lần nào đó mình có lướt qua bài thơ này. Vấn đề lại ở trí não. Mà không phải trí não. Chính alaya “khởi tác dụng”.

Quy cho cùng, đó cũng là Nghiệp. Dẫu vậy, trong họa có phúc. Giả như ta dư nghiệp, ắt gặp hoạn nạn. Nạn đến (thông qua sự mất mát về tiền tài, danh vọng, bệnh tật), tức ta đang thẩy khỏi mình một ít nghiệp. Ta tạo ác, cõng nghiệp, mà nạn chưa sờ tới, một là vẫn còn phước đỡ giùm (phước đỡ từng nào đương nhiên dễ phát sinh thêm nghiệp), hai là, mạng chung!, nhẹ hơn cũng dật dờ sống không bằng chết. Đây cũng là một vòng quay mới của nghiệp. Nhờ sự chết còn hơn sống, nhờ sự bất đắc kỳ tử này, [hồn/thức] ấy qua bên kia sẽ nhẹ gánh, dễ được lôi vào một thân tướng khá ổn như thân người hoặc trời (không đọa xuống tam ác đạo); còn người ấy với số phận như thế nào lại là một chu trình nghiệp khác nữa tùy vào duyên khởi và chính sự tin hiểu mức nào về chân lý.

Thức alaya đã được khoa học hiện đại chứng minh. Nó, như một file lưu giữ thông tin kiếp người. Càng minh chứng điều hễ trong không gian này có một tỉ thông tin, thì nó đều tiếp nhận và lưu kỹ, song những thông tin được tai mắt kiểm soát mới dễ kích động kích hoạt. Hãy so sánh với ông Google. Lúc ta để trong ngoặc kép một dòng tên nhân vật nổi tiếng hay một địa danh, một sự kiện, chưa tới một giây có khi ông Google cung cấp hàng triệu thông tin liên quan. Trên Youtube cũng vậy. Chẳng hạn search về bốn chữ “A Di Đà Phật”, liền hiện ra hàng loạt clip. Tắt máy, mai ta mở lại Youtube, trên màn hình đã tự hút thêm về những tin tức mới nóng về “A Di Đà Phật”. Đáng nể. Một cỗ máy do con người sáng chế đã làm được nhiệm vụ thu thông tin một cách tự nhiên như vậy, huống hồ chính bản thân con người. Alaya thức của ta chứa hầu như mọi thông tin thế gian (tính cả tiền kiếp). Tại kiếp này, ví như tác giả nọ muốn viết về đề tài X., lập tức trí não sẽ tự lôi mọi thông tin ta lưu trữ, quan trọng nhất vẫn là lượng thông tin “vô hình” được lưu sâu trong tàng thức, nó sẽ tuôn ra như suối nhờ tánh giác khiến ta ngạc nhiên đến sửng sốt. Từ Phật pháp mà nhìn, chỉ cần con người khởi ý về Z., mọi thông tin liên quan đến Z sẽ được quy tụ; là người có tâm lực mạnh, nhất là người với công phu hành pháp cao, những thông tin “mật” độc đáo dưới dạng từ trường, sóng, năng lượng sẽ được hút về, tác động lên não bộ. Những vị sư thâm hậu, họ giảng một bộ kinh hết mấy ngàn giờ, mà không hề chuẩn bị. Cứ đến là giảng, xong vài tiếng thì gấp lại làm việc khác (đã sắp kín thời gian trong ngày), mai giở ra giảng tiếp rất tự tại. Điều này thật sự vi diệu. Đây mới là trí huệ chân thật, không phải tri thức (thuộc vọng tâm). Trí huệ là cái sẵn có trong bổn tánh, giải quyết mọi chướng ngại trong đời.

Trong vọng tâm mà mỗi chúng ta tự thiết lập phủ lên tánh giác, bất thiện luôn lấn át sở thiện, ý nghĩ xấu thường nhiều gấp bội tốt. Một người trú trong ngôi biệt thự, hầu như không có nhu cầu ra ngoài, ngập chìm trong chiếc điện thoại nối mạng, suốt ngày xâm nhập thế giới đồi trụy, nghiện bạo lực và sex đến mờ mắt vẫn còn mê; là người tạo nghiệp nặng khôn kể đối với thế giớivũ trụ. Nghĩ xấu, vô vàn ý niệm tương đồng khắp mọi phương sẽ chiêu tụ về trong khoảnh khắc, tạo thành một trường lực tăm tối bao quanh. Chưa nói đến thiền vốn rất siêu tuyệt, ngay những người tu khí công cao họ đã nhìn thấy vầng ánh sáng/ màu quanh mỗi người, nếu chỗ nào lõm khuyết tức bệnh. Trong nhà Phật, bậc chứng thiền sẽ nhìn thấy sắc màu ở từng người, dao động theo tâm ý. Những kẻ sát nhân đôi khi đơn giản khởi niệm xấu, bỗng chiêu niệm ác, thế là sát khí tăng gấp bội, gấp tỉ lần. Ta đứng xa thấy người này đánh người kia, phân định phải trái rõ ràng, song dẫu sao đó cũng là cái nhìn thấy một phần tỉ nguyên nhân; đằng sau người khởi sự đánh ấy là con tàu nghiệp lực hàng vạn toa chở vô số oan gia trái chủ hùa với người kia tạo nghiệp, gọi chung là ma lực sai sử. Những bậc đắc quả thánh còn thấy hàng trăm kiếp mình từng trải như lật lại hồ sơ lưu giữ sống động quá trình họ trôi nổi luân hồi.

Mọi thông tin trên trái đất này đều có trong tàng thức mỗi người, mấu chốt là ta chưa thể biết có, nhưng cũng dễ cảm nhận. Ai một lần du lịch nước ngoài hay đến vùng đất lạ trong nước, họ đứng ngẩn ra, ô sao nơi này quen, thân thiết quá, muốn ở lại luôn; đơn giản bởi những kiếp nào đó họ từng sống nơi đây. Ta yêu hay ghét một sự vật, trước hết là: căn (nhãn, nhĩ, tỹ…) tiếp xúc với trần (sắc, thanh, hương, vị…); mắt tiếp xúc với sắc; mũi tiếp xúc với thanh; lưỡi tiếp xúc vị, tâm sẽ khởi lên sự thích hay không. Sắc hương vị ấy ví như thông tin, thông tin phải qua người lính gác cổng ý thức; ý thức chuyển thông tin vào mạt na; thức này mới đưa thông tin ấy dâng lên ông-vua-tàng-thức (alaya); nếu thông tin từng được lưu lại như một kỷ niệm đẹp trong quá khứ, nó sẽ thích. Thích, alaya liền gật đầu với mạt na, mạt na báo ra với tên-lính-ý-thức, ý thức bây giờ mới tác động lên trí não để sai khiến thân làm nô lệ. Vòng quay từ lúc căn tiếp xúc với trần rồi đến vua, vua gật đầu chuyển ra ngoài sự yêu hay ghét chỉ trong sát na, có thể là một phần tỉ giây. Hoàn toàn trí não không kiểm soát nổi. Lại tỉ dụ. Sau một tuần công tác về, ta tới quán gọi ly cà phê. Nhấp một ngụm, nhăn mặt. Không ngon. Không ngon không hẳn ly cà phê lúc đó không ngon, mà nó không ngon đúng như ký ức ta lưu về một ly cà phê trước đây. Ăn cũng vậy, nó dở trước hết bởi không giống như ta từng ăn món này được nấu rất ngon. Ký ức [tham] lưu toàn vẹn sự ngon đó một cách sâu sắc. Nghe bản nhạc. Cô này hát dở. Dở là chính ta đang so sánh với ca sĩ khác hát trong quá khứ, trong tiền kiếp với dòng nhạc tương tự; rồi nếu bài này được gắn với một kỷ niệm tình thì ký ức đạt đỉnh. Nhạc sến có cần? Một nhạc sĩ thiên tài nhiều lúc họ vẫn lắng nghe một bài nhạc sến. Họ lục ký ức, hồi đó từng ngồi với nàng nghe bài này rồi chia tay… nàng đã khóc. Bài nhạc sến trở thành món đặc sản tinh thần của ông. Nói xa hơn, hiện tượng đồng tính nếu xét ở nhân quả nghiệp báo cũng không khó hiểu. Anh [là đàn ông] bây giờ, kiếp trước mang thân nữ. Kiếp này đàn ông song ký ức lưu giữ về một cá tính nữ quá mạnh, quá trỗi vượt, nên kiếp này [đầu thai] mang thân nam, những cá tính lưu trong alaya là nữ ấy cứ chỗi lên như viên sỏi ném vào tro bếp. Anh [với tính nữ] chỉ muốn yêu một người nam. Nghiệp này, nỗi “oan” này đến trời cũng không cảm thông nổi.

Làm sao chế ngự nghiệp lực. Duy chỉ con đường: Hành pháp. Mục tiêu là khiến tâm định. Rồi mới tiến đến mức Vô Trụ - Phát tuệ. Mục đích tối cùng của việc học Phật là đắc huệ. Huệ mới giải quyết được phiền não, mới khiến cuộc sống của chúng ta an bình, không dao động bất an, ám ảnh. Chúng ta đọc nghìn vạn cuốn sách, thành học giả được cả thế giới ngưỡng mộ, nhưng một khi nạn nghiệp, bệnh tật, bất trắc ập đến mà nghìn vạn cuốn sách đó không giúp gì được thì phải cần hiểu bởi nó chỉ là tri thức, không có trí tuệ. Một học giả hàng đầu thuộc ngành gì trước hết cũng nên hiểu mặt tin thần tâm linh chiếm hơn chín mươi phần trăm con người mình. Để khi bệnh đến ta không giao một trăm phần trăm sinh mạng cho những bác sĩ chỉ chữa được có mười phần trăm con người mình. Tri thức có thể sanh ra trí tuệ, song thứ “trí tuệ” không khiến chúng ta bình lặng trước biến cố cuộc đời thì đó vẫn là tri thức. Chúng ta “thế trí biện thông”, lúc gặp người phỉ báng coi khinh liền trằn trọc ăn không ngon ngủ không yên; gặp nghịch cảnh, gặp chuyện không vừa cái tham liền sân nộ. Thử hỏi lúc ta sân nộ có nguy cơ tàn hoại thanh danhthân mạng (của ta và người), lúc ấy kiến thức của trăm vạn cuốn sách ở đâu rồi? Lúc ấy có phải người đời gọi chúng tamất trí. Thực tế không phải mất trí, mà từ lâu chúng ta nhầm thứ tri thức thuộc tài danh ngã mạn ấy là trí tuệ. Thực hành chánh pháp mới mang lại cho tâm ta an định; có định sẽ sinh trí tuệ. Thế nên giữa Phật họchọc Phật là cả một đại dương không mấy ai dễ đủ sức bơi qua. Học Phật, có thể đó là ngồi quán hơi thở vô ra, sự phồng xẹp của bụng, có thể là nhiếp tâm tụng kinh, trì chú, niệm Phật, thiền vipassana. Trì chú tụng kinh hay niệm Phật đều phải tâm khởi (dẫu là khởi thầm) tai luôn nghe rõ, gọi là tánh nghe; giống như ta tưởng đến một tiếng chuông và nghe trọn vẹn nó vậy. Như vậy mới hầu mong hòa giải vọng niệm, cảm hóa vọng niệm, dần vào định, dần tiến đến có niệm mà không niệm. Vọng niệm cũng như một cơn cảm cúm, đến rồi sẽ tự trôi, không nhất thiết phải dùng thuốc. Mỗi khi cơn giận khởi, chỉ nên “cười trừ”. Trong những thứ “đồ giả” bất chợt ùa tới, cũng có thể xem là cao nhân đang thử tâm mình. Mối quan hệ giữa ta với bà hàng xóm từ lâu vẫn hiền hòa, tự dưng một ngày bà vu ta thế này thế kia; nên hướng ngay vào nội giới, tâm lần theo câu chú hay hồng danh Phật. Mỗi chữ đều mạnh mẽ như tiếng chuông vỡ trong khuya, loang dần trong huyết quản; phiền não sẽ tan như sương dưới nắng mai chan hòa.

Tu là sửa mọi hành vi cho đúng với sự vận hành của vũ trụ. Sống trong giới luật nhà Phật, chính là không vi phạm pháp luật vũ trụ. Một niệm có thể trùm khắp không gian vượt khỏi giải ngân hà. Chúng ta tin hay không thì điều này vẫn tồn tại. Chúng ta tin chết không phải hết hay không?, tin chết rồi thức có thực đầu thai vào một trong các nẻo lục đạo hay không?, tin địa ngục hay không?; tin hay không tin nó vẫn tồn tại. Dẫu bạn theo bất cứ tôn giáo nào cũng không nằm ngoài quy luật vũ trụ. Quy luật vũ trụ luôn thông dự vào cuộc đời ta trong từng ý niệm. Là sản phẩm của một gia đình - ta đang tự hạn chế mình. Là sản phẩm của một nước - ta đang tự hạn chế mình. Là sản phẩm của toàn cầu - ta cũng đang tự hạn chế mình. Bởi, con người là sản phẩm của nghiệp thức trầm mình muôn kiếp trong vũ trụ bao dung; và hơn hết con người vốn là thể tánh “có mặt” ở khắp vũ trụ.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn