Kinh Người Ngu Muội

12 Tháng Sáu 201416:24(Xem: 5327)
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh dịch

Ngu Ám Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập tam

愚闇品法句經第十三

Kinh Người Ngu Muội

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 13

Phẩm này có 21 bài kệ. Ngu ám đây là chỉ cho những kẻ si mê, ngu phu. Tiếng Pali là bala. Mỗi bài kệ trong phẩm này là một tiếng chuông chánh niệm cho người tại gia và cho cả người xuất gia. Bài kệ đầu nói về đêm sinh tử, một đêm kéo dài bất tận, bởi vì trong đêm dài ấy ánh sáng không chịu về. Ánh sáng đây là ánh sáng trí tuệ, hiểu biết, giác ngộ. Ánh sáng chưa chịu về thì đêm còn kéo dài mãi mãi. Mình phải tự hỏi mình có đang chìm đắm trong cái đêm sinh tử ấy không? Nếu chung quanh mình toàn là những người ngủ mê, chỉ biết bôn ba bận rộn về con cái và tài sản, về những tiện nghi vật chất và tình cảm hàng ngày, thì mình biết họ là những người đang đi trong trong đêm. Mình thử hỏi: mình có phải là một trong những người ấy không? Bài kệ thứ 6 cho ta biết: Nếu ta biết được ta là một trong những người đang mê ngủ thì đó là ta đã tỉnh dậy. Biển khổ tuy mênh mông, nhưng quay đầu lại thì thấy được bến bờ ngay. Bài kệ thứ 8 khuyên ta nên tìm cách gần gũi người có trí tuệ để có cơ hội thức tỉnh và nếm được hương vị của giác ngộ. Các bài kệ 17, 18, 19, 20 và 21 là đặc biệt để dành cho người xuất gia. Bài thứ 19 khuyên người xuất gia đừng đóng vai trò của một người sa môn tại gia nữa. Sa môn tại gia là một người chỉ có hình tướng xuất gia mà không có nội dung xuất gia.

Bài kệ 1

Bất mị dạ trường 不 寐 夜 長

Bì quyền đạo trường 疲 惓 道 長

Ngu sanh tử trường 愚 生 死 長

Mạc tri chánh pháp 莫 知 正 法

Kẻ mất ngủ thấy đêm dài. Kẻ lữ hành mệt nhọc thấy đường xa hun hút. Đối với kẻ ngu muội, đêm sinh tử là dài nhất cũng bởi vì kẻ ấy không biết đến chánh pháp.

Bài kệ 2

Si ý thường minh 癡 意 常 冥

Thệ như lưu xuyên 逝 如 流 川

Tại nhất hành cường 在 一 行 彊

Độc nhi vô ngẫu 獨 而 無 偶

Tâm ý kẻ si mê mãi mãi mờ ám, trôi hoài như nước sông. Vì vậy, thà rằng mình đi một mình, đừng đi với những kẻ ngu muội.

Bài kệ 3

Ngu nhân khán số 愚 人 着 數

Ưu thích cửu trường 憂 慼 久 長

Dữ ngu cư khổ 與 愚 居 苦

Ư ngã do oán 於 我 猶 怨

Người ngu muội kẹt vào những con số, niềm lo lắng kéo dài, chung đụng với người ngu là khó, lại còn gây ra thêm oán hận.

Bài kệ 4

Hữu tử hữu tài 有 子 有 財

Ngu duy cấp cấp 愚 惟 汲 汲

Ngã thả phi ngã 我 且 非 我

Hà ưu tử tài 何 憂 子 財

Người ngu muội cứ bôn ba bận rộn (về con cái và tài sản). "Đây là con trai của tôi. Đây là tài sản của tôi." Cái thân này chưa chắc là của ta, huống nữa là con cái và tài sản.

Bài kệ 5

Thử đương chỉ thử 暑 當 止 此

Hàn đương chỉ thử 寒 當 止 此

Ngu đa vụ lự 愚 多 務 慮

Mạc tri lai biến 莫 知 來 變

Nóng quá, làm sao cho hết nóng. Lạnh quá, làm sao cho hết lạnh. Kẻ ngu phu lo từ chuyện này tới chuyện khác, không biết cái gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Bài kệ 6

Ngu mông ngu cực 愚 曚 愚 極

Tự vị ngã trí 自 謂 我 智

Ngu nhi thắng trí 愚 而 勝 智

Thị vị cực ngu 是 謂 極 愚

Kẻ ngu mà cho mình là kẻ trí, đó là ngu tới mức cùng cực. Kẻ ngu mà biết là mình ngu thì đó đã là kẻ trí rồi.

Bài kệ 7

Ngoan ám cận trí 頑 闇 近 智

Như biều châm vị 如 瓢 斟 味

Tuy cửu hiệp tập 雖 久 狎 習

Do bất tri Pháp 猶 不 知 法

Kẻ ngoan cố ở gần kẻ trí thì cũng như cái thìa múc canh, múc hoài hoài mà cái thìa không biết canh là ngon hay dở.

Bài kệ 8

Khai đạt cận trí 開 達 近 智

Như thiệt thường vị 如 舌 嘗 味

Tuy tu du tập 雖 須 臾 習

Tức giải đạo yếu 即 解 道 要

Có cơ hội mà gần được người trí thì cũng như cái lưỡi nếm được thức ăn, chỉ trong khoảnh khắc mà biết được thức ăn ngon hay dở.

Bài kệ 9

Ngu nhân thí hành 愚 人 施 行

Vi thân chiêu hoạn 為 身 招 患

Khoái tâm tác ác 快 心 作 惡

Tự trí trọng ương 自 致 重 殃

Hành động của kẻ ngu muội đem lại tai hoạn cho bản thân mình, vì ưa làm việc ác cho nên tự đưa mình đến tai ương.

Bài kệ 10

Hành vi bất thiện 行 為 不 善

Thoái kiến hối lẫn 退 見 悔 悋

Trí thế lưu diện 致 涕 流 面

Báo do túc tập 報 由 宿 習

Làm xong một cái gì bất thiện, nhìn lại thấy hối hận rồi thì khóc thương đầm đìa nước mắt, quả báo đến từ thói quen lâu đời dồn lại.

Bài kệ 11

Hành vi đức thiện 行 為 德 善

Tiến đổ hoan hỉ 進 覩 歡 喜

Ưng lai thọ phước 應 來 受 福

Hỉ tiếu duyệt tập 喜 笑 悅 習

Làm được một điều gì hiền thiện, nhìn lại thấy hoan hỉ, biết rằng mình sẽ tiếp nhận phước đức, niềm vui và nụ cười sẽ đến với mình.

Bài kệ 12

Quá tội vị thục 過 罪 未 熟

Ngu dĩ điềm đàm 愚 以 恬 惔

Chí kỳ thục xứ 至 其 熟 處

Tự thọ đại tội 自 受 大 罪

Lỗi lầm làm trong quá khứ chưa đến lúc chín, kẻ ngu muội vì thế cứ việc nhn nhơ, nhưng khi nghiệp quả đã chín muồi thì sẽ tự mình nhận chịu tội báo lớn.

Bài kệ 13

Ngu sở vọng xứ 愚 所 望 處

Bất vị thích khổ 不 謂 適 苦

Lâm đọa ách địa 臨 墮 厄 地

Nãi tri bất thiện 乃 知 不 善

Chỗ sai lầm của người ngu là không nhận diện được cái khổ là cái khổ, khi nào rơi vào tình trạng nguy ngập thì mới biết là mình đã làm sai.

Bài kệ 14

Ngu xuẩn tác ác 愚 憃 作 惡

Bất năng tự giải 不 能 自 解

Ương truy tự phần 殃 追 自 焚

Tội thành sí nhiên 罪 成 熾 燃

Ngu xuẩn làm ác, không có khả năng tự biết, tai ương do đó đi theo đốt cháy chính mình, tội báo cháy bùng.

Bài kệ 15

Ngu hảo mỹ thực 愚 好 美 食

Nguyệt nguyệt tư thậm 月 月 滋 甚

Ư thập lục phần 於 十 六 分

Vị nhất tư Pháp 未 一 思 法

Người ngu chỉ biết lo ăn ngon, chỉ biết hưởng thụ, càng ngày càng đi sâu vào lầm lỗi, trong mười sáu phần hạnh phúc đích thực, người ngu không hưởng được đến một phần.

Bài kệ 16

Ngu sanh niệm lự 愚 生 念 慮

Chí chung vô lợi 至 終 無 利

Tự chiêu đao trượng 自 招 刀 杖

Báo hữu ấn chương 報 有 印 章

Cái ngu sinh ra cái lo lắng, cuối cùng chẳng có lợi lạc gì, và người ngu tự chuốc lấy đao trượng (hình phạt) của báo ứng, có chứng cớ rõ ràng không thể chối cãi.

Bài kệ 17

Quán xứ tri kỳ ngu 觀 處 知 其 愚

Bất thí nhi quảng cầu 不 施 而 廣 求

Sở đọa vô đạo trí 所 墮 無 道 智

Vãng vãng hữu ác hành 往 往 有 惡 行

Quán sát ngay tại chỗ và nhận diện ra sự có mặt của kẻ ngu mê: đó là những người không tu tập mà chỉ biết đòi hỏi, những kẻ ấy sẽ đọa lạc vào chỗ vô đạo và thường thường làm những điều xấu ác.

Bài kệ 18

Viễn đạo cận dục giả 遠 道 近 欲 者

Vi thực tại học danh 為 食 在 學 名

Tham y gia cư cố 貪 猗 家 居 故

Đa thủ cúng dị tính 多 取 供 異 姓

Xa đạo, gần kẻ nhiều tham dục, mang tên là người tu mà chỉ nghĩ tới chuyện ăn, cứ la cà nơi nhà người cư sĩ để mong cầu sự cúng dường càng nhiều càng tốt.

Bài kệ 19

Học mạc đọa nhị vọng 學 莫 墮 二 望

Mạc tác gia sa môn 莫 作 家 沙 門

Tham gia vi Thánh giáo 貪 家 違 聖 教

Vi hậu tự quỹ phạp 為 後 自 匱 乏

Tu thì đừng để tự rơi vào ba cái sai lầm. Đừng đóng vai trò vị sa môn tại gia, la cà nhà cư sĩ là sai với lời Bụt dạy, sau này sẽ cảm thấy thiệt thòi.

Bài kệ 20

Thử hành dữ ngu đồng 此 行 與 愚 同

Đãn lệnh dục mạn tăng 但 令 欲 慢 增

Lợi cầu chi nguyện dị 利 求 之 願 異

Cầu đạo ý diệc dị 求 道 意 亦 異

Hành xử như trên thì thấy chẳng khác gì cách hành xử của kẻ ngu phu, chỉ làm cho dục vọng và kiêu mạn tăng trưởng. Cái ước nguyện chỉ là cái tài lợi, không phải là tâm ý cầu đạo thành khẩn.

Bài kệ 21

Thị dĩ hữu thức giả 是 以 有 識 者

Xuất vi Phật đệ tử 出 為 佛 弟 子

Khí ái xả thế tập 棄 愛 捨 世 習

Chung bất đọa sanh tử 終 不 墮 生 死

Cho nên đã là bậc thức giả, là người xuất gia đệ tử Bụt thì phải buông bỏ ái dục và những tập khí ngoài đời, cuối cùng mới khỏi đọa vào sinh tử.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Một 2014(Xem: 14792)
Gần đây, thầy Nhất Hạnh đã dịch lại Tâm kinh Bát-nhã. Trang Làng Mai có đăng tải bản dịch mới, kèm theo những giải thích của thầy về việc phải dịch lại Tâm kinh. Rất nhiều trang mạng đã đăng tải bản dịch mới này, trong đó có cả Thư viện Hoa Sen. Bên dưới bài đăng ở Thư viện Hoa Sen có nhiều nhận xét của người đọc để lại, cho thấy khá nhiều ý kiến trái chiều nhau quan tâm đến việc này.
24 Tháng Mười 2014(Xem: 11887)
Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh (phiên latinh từ Phạn ngữ: Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra,Prajnaparamitahridaya Sutra; Anh ngữ: Heart of Perfect Wisdom Sutra, tiếng Hoa: 般若波羅蜜多心經; âmHán Việt: Bát nhã ba la mật đa tâm kinh) còn được gọi là Bát-nhã tâm kinh, hay Tâm Kinh. Đây là kinh ngắn nhất chỉ có khoảng 260 chữ của Phật giáo Đại thừa và Thiền tông. Nó cũng là kinh tinh yếu của bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 cuốn. Dưới đây là sáu bản dịch Việt từ sáu bản dịch tiếng Trung khác nhau:
10 Tháng Mười 2014(Xem: 12403)
Viên giác là nói về tuệ giác viên mãn của Phật. Nên kinh này rõ ràng duyệt xét khá kỹ về trí thức con người. Điều kỳ dị trong việc này là đối với trí thức ấy không công nhận mà có vẻ công nhận. Thí dụ chương Tịnh chư nghiệp chướng nói về sự tự ý thức tự ngã: tự biết mới hiện ra tự ngã, vậy là không công nhận, nhưng tự hiểu như vậy nên cũng hiểu tự ngã ấy không đáng nhận, vậy là có vẻ công nhận.
19 Tháng Chín 2014(Xem: 12094)
Kinh Hiền Ngu thuộc bộ phận “Thí dụ” hoặc “Nhân duyên”, là một trong mười hai phần giáo của Kinh điển. Nội dung kinh này gồm những mẩu chuyện ghi chếp về tiền thân của đức Phật ở đời quá khứ có liên hệ với hiện tại, hoặc ở đời hiện tại có liên hệ với quá khứ, cũng là những chuyện được Phật hóa độ, Phật thụ ký, và những chuyện khuyến thiện trừng ác… Về kỹ thuật thuyết minh, chuyện dựa trên căn bản nhân duyên hoặc thí dụ, thiện nghiệp và ác nghiệp. Căn cứ vào những phần tướng của thiện và ác nên mới có hiền và ngu. Vì vậy nên tên kinh gọi là Hiền Ngu, nay gọi tắt là “Kinh Hiền”
14 Tháng Chín 2014(Xem: 12067)
(Bản dịch Tâm Kinh mới của Sư Ông Làng Mai)....Tâm kinh Bát-nhã có chủ ý muốn giúp cho Hữu Bộ (Sarvāstivāda) buông bỏ chủ trương ngã không pháp hữu (không có ngã, mà chỉ có pháp). Chủ trương sâu sắc của Bát-nhã thật ra là để xiển dương tuệ giác ngã không (ātma sūnyatā) và pháp không (dharma sūnyatā) chứ không phải là ngã vô và pháp vô. Bụt đã dạy trong kinh Kātyāyana rằng phần lớn người đời đều bị kẹt vào ý niệm hữu hoặc vô. ...
01 Tháng Tám 2014(Xem: 7960)
01 Tháng Bảy 2014(Xem: 8519)
29 Tháng Sáu 2014(Xem: 9132)
12 Tháng Sáu 2014(Xem: 10149)
Dhammapada là giáo nghĩa thiết yếu của các kinh. Dhamma là pháp, Pada là câu, là cú, là kệ. Pháp Cú có nhiều bộ khác nhau: có bộ có 900 câu kệ, có bộ 700 câu, và có bộ 500 câu. Kệ là những lời ngắn gọn, như bài thơ, bài tụng. Những câu ấy do Bụt nói ra, không phải một lần tất cả các câu, mà chỉ khi nào xúc sự thì mới nói lên một câu. Tất cả các câu ấy đều có gốc gác rải rác trong các kinh.